Chương 1. Khái quát và quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh khi ly hôn. Thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh khi ly hôn và kiến nghị hoàn thiện. KHÁI QUÁT VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG ĐƯA VÀO KINH DOANH KHI LY HÔN 1.
Khái quát về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh khi ly hôn 1.1 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh khi ly hôn Tài sản theo ý nghĩa thông thường là “của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu”1. Theo thuật ngữ pháp lý thì “tài sản là các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác. Tài sản bao gồm vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo như mẫu đã thỏa thuận giữa các bên, tiền và giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản”2. Pháp luật hiện hành cũng có định nghĩa về tài sản, theo đó, “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”3. Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc chế độ tài sản theo luật định4. Nếu lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận nhưng thỏa thuận đó bị tuyên bố vô hiệu hoặc phát sinh những vấn đề chưa được thỏa thuận, thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng chế độ tài sản theo luật định.
Tài sản của vợ chồng có thể bao gồm tài sản chung và tài sản riêng. Khoản 1 Điều 33 Luật HNGĐ năm 2014 theo hướng liệt kê các loại tài sản chung của vợ chồng “tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”. Tài sản này chỉ có thể tồn tại giữa những người có quan hệ vợ chồng - tức là có đăng ký kết hôn và được pháp luật thừa nhận. Nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ, đối với trường hợp là “hôn nhân thực tế”, nam, nữ sống chung trước ngày 3/1/1987 mà không đăng ký kết hôn nhưng thỏa các điều kiện công nhận hai người là 1 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.
2 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, tr. 4 Khoản 1 Điều 28 Luật HNGĐ năm 2014. 10 vợ chồng thì thời kỳ hôn nhân tính từ ngày sống chung. Tài sản chung của vợ chồng phát sinh từ thời điểm các bên bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng5.
Các căn cứ để xác định tài sản chung theo quy định của Luật HNGĐ năm 2014 dựa vào: thời điểm phát sinh, nguồn gốc hình thành, ý chí của vợ chồng và suy đoán pháp lý. Đầu tiên, “tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân từ thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và các thu nhập hợp pháp khác có được trong thời kỳ hôn nhân”. Đây được xem là phần tài sản chủ yếu trong khối tài sản chung của vợ chồng. Cách thức tạo ra phần tài sản này đến từ việc vợ, chồng trực tiếp lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh có được.
Vợ, chồng đầu tư, kinh doanh thì phần hoa lợi, lợi tức dù phát sinh từ tài sản riêng nhưng trong quan hệ hôn nhân sẽ được xem là tài sản chung của vợ chồng. Các khoản thu nhập hợp pháp khác có được của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm: khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp; tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dân sự (sau đây viết tắt là BLDS) đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước; thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật6. Nhưng đối với khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng thì dù phát sinh trong thời kỳ hôn nhân vẫn xem là tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật. Thứ hai, dựa vào nguồn gốc tài sản “tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung”.
Nếu người tặng cho xác định phần quyền sở hữu của mỗi bên trong khối tài sản tặng cho thì tài sản này không được xem là tài sản chung của vợ, chồng. Nếu người tặng cho không xác định phần quyền sở hữu, có ý chí muốn tặng cho cả vợ, chồng thì xem là tài sản chung của vợ, chồng. Tương tự vậy, nếu thừa kế theo di chúc thì phần di sản để lại được xác định là tài sản chung nếu người để lại di chúc không 5 Khoản 1, 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ban hành ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình. 6 Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HNGĐ.
11 chỉ định phần di sản cụ thể mà vợ, chồng được hưởng. Nếu người để lại di chúc chỉ định người được hưởng thì là tài sản riêng của vợ, chồng. Nhưng nếu là thừa kế theo pháp luật thì phần tài sản này không xem là tài sản chung vì trong các hàng thừa kế không có con dâu, con rể. Thứ ba, dựa vào ý chí của vợ, chồng,“tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”.
Phần tài sản này thường có từ việc không có sự rõ ràng trong cách xác định tài sản chung hay riêng; hoặc đến từ việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung dựa trên thỏa thuận của vợ chồng. Khoản 2 Điều 46 Luật HNGĐ năm 2014 có quy định: “Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó”. Cuối cùng là dựa vào nguyên tắc suy đoán pháp lý, theo đó,“trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được xem là tài sản chung”. Nếu có tranh chấp xảy ra mà không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được xem là tài sản chung.
Quyền của vợ chồng với việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung do vợ chồng tự thỏa thuận. Với việc định đoạt tài sản chung trong các trường hợp tài sản là “bất động sản; động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình” thì phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ, chồng7. Căn cứ vào thời điểm phát sinh tài sản thì tài sản chung của vợ chồng là những tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân - khoảng thời gian tính từ ngày đăng ký kết hôn cho đến ngày chấm dứt hôn nhân. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất8.
BLDS Việt Nam xác định hình thức sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia9. Trong quan hệ hôn nhân gia đình, pháp luật cho phép vợ chồng được phân chia tài sản chung của hai người. Đối với phần tài sản sở hữu chung hợp nhất thì “các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối 7 Điều 35 Luật HNGĐ năm 2014. 8 Khoản 2 Điều 33 Luật HNGĐ năm 2014.
12 với tài sản thuộc sở hữu chung”10. Như vậy, vợ, chồng là các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền khai thác, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung ngang nhau. Không chỉ ràng buộc về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ, chồng cũng ràng buộc bởi các nghĩa vụ pháp lý nhất định. Hôn nhân càng dài, điều kiện phát triển của khối tài sản chung càng lớn.
Có thể thấy rằng nếu vợ, chồng càng có nhiều tài sản chung hợp nhất thì quyền và nghĩa vụ chung càng nhiều. Từ quy định trên cho thấy pháp luật bắt buộc mỗi bên đều phải có sự đóng góp, quan tâm đến khối tài sản chung để bảo đảm nghĩa vụ của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Khái niệm kinh doanh thông thường được hiểu là “việc sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi”11. Từ điển Luật học có định nghĩa “kinh doanh là các hoạt động đầu tư, sản xuất, mua bán, cung ứng dịch vụ do các bên chủ thể kinh doanh tiến hành một cách độc lập, thường xuyên trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận”12.
Theo định nghĩa của pháp luật chuyên ngành, kinh doanh là “việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”13. Các tài sản được đưa vào kinh doanh thường có giá trị lớn, như nhà cửa, tiền, quyền sử dụng đất,. Bên cạnh mục đích kinh doanh để sinh lợi từ tài sản hiện có, tìm kiếm lợi nhuận đóng góp vào khối tài sản chung, việc kinh doanh cũng có thể có những rủi ro nhất định. Do đó, không bên nào được tự ý đưa tài sản chung của vợ chồng vào hoạt động kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân, việc sử dụng tài sản chung đưa vào kinh doanh cần phải đáp ứng các yêu cầu của Luật HNGĐ năm 2014 và BLDS năm 2015.
Luật HNGĐ có quy định trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền dùng phần tài sản chung để đưa vào kinh doanh.