Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN VE CHAT LƯỢNG CUỘC SÓNG DÂN CƯ 1. Cơ sở lí luận về chất lượng cuộc sống 1. Quan niệm về chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống là một trong những cụm từ được xuất hiện ngày càng nhiều trong các bài báo nghiên cứu khoa học hiện nay.
Chất lượng cuộc sống là thuật ngữ được sử dụng dé đánh giá chung nhất về mức độ của cuộc sống của người dân trên phạm vi của toàn xã hội của một đất nước. Chất lượng cuộc sống thẻ hiện sự thoải mái của con người cả về vật chat lẫn tinh thân. Nói cách khác, chat lượng cuộc song la thước do về giá trị vật chat cũng như giá tri tinh than của con người trong cuộc sống mỗi ngày. Có thẻ nói, chất lượng cuộc sông con người tỉ lệ thuận với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới.
Ngày nay, khi kinh tế càng phát triển thì việc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người lại được nhà nước, xã hội và cộng đồng quốc tế quan tâm hon. Vi vậy, đẻ tài về chat lượng cuộc sống trở nên sôi nỗi khi các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn là vấn đề được mọi người đào sâu nghiên cứu và đưa ra nhiều phương hướng phát triển cũng như các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sông của người dân. Có rất nhiều khái niệm gần giống với “chat lượng cuộc sống" về ý nghĩa như mức sông hay chất lượng sông. Tuy nhiên, hai khái niệm này chi thé hiện một phan nhỏ trong khái niệm “chat lượng cuộc sống”.
Mức sống là thuật ngữ mà tiêu chí chủ yếu khi nghiên cứu về cuộc sống là thu nhập. Hay chất lượng sông cũng là một khái niệm chỉ dùng các chỉ số sức khỏe của con người nghiên cứu. Trong khi đó, chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh trên tat cá các lĩnh vực phát triên kinh tế, giáo dục. y tế, sức khỏe và thậm chí là chính trị ở một mức độ nhất định.
Chất lượng cuộc sông không chỉ nghiên cứu vé thu nhập, công việc hay sự giàu nghèo trong cuộc sống của con người ma còn là môi trường xã hội va môi trường sống, sức khỏe tinh thần, giáo dục và giải trí của con người hàng ngày. 10 Chat lượng cuộc sống là một khái niệm động, phát trién tir thap lên cao phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa, truyền thong của mỗi dân tộc trong từng giai đoạn phát triển của hình thái xã hội của mỗi quốc gia. Chất lượng cuộc sông có quan hệ qua lại với nhiêu yếu tổ như nguồn tài nguyên thiên nhiên. sự phát triển din số, văn hóa tôn giáo và trình độ phát triển kinh tế - xã hội,.
của mỗi quốc gia trên thế giới. Như vậy, chất lượng cuộc sống thường được hiểu rất rộng, phản ánh sự đáp ứng những nhu cau tôi thiểu của con người. Mức độ đáp ứng cho nhu cầu của con người càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao. Theo Tô chức Y tế thế giới (1994): “Chất lượng cuộc sống là nhận thức mà cá nhân có được trong đời sóng của mình.
trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà cá nhân sống, trong môi tương tác với những mong muốn, những chuẩn mực và những mỗi quan tâm. Đó la một khái niệm rộng phụ thuộc vào hệ thống phức hợp của trạng thái sức khỏe thẻ chất, trạng thái tâm lí hay mức độ độc lập. những mỗi quan hệ xã hội va môi trường sông của mỗi cá nhân.” Tỏ chức này cũng đã đưa ra 3 nhóm tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống con người, đó là: - Mức độ thoải mái vẻ thẻ chất. - Mức độ thoải mái về tỉnh thần.
- Mức độ thoải mái về xã hội. Trong tác pham nỗi tiếng của minh “Dan số. tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống” (1988), R.C Sharma đã định nghĩa: “Chat lượng cuộc sông là sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tô của cuộc sông. mà những nhân tố được coi là quan trọng nhất đối với bản thân con người.
Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác của sự day đú hay là sự trọn vẹn của cuộc sống”. Khái niệm “Chất lượng cuộc sông” cũng được William Bell đưa ra va mở rộng một cách toàn diện và cụ thé hơn. Ông đã gắn chất lượng cuộc sông của người dân với các điều kiện kinh tế, chính tri, văn hóa, xã hội. Bởi ông cho rằng, tất cả các điều kiện trên đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của người đân ở một quốc gia nào đó.
Ông đưa ra 12 đặc trưng thê hiện chất lượng cuộc sống như sau: 11 - An toàn thé chat cá nhân. - Sung túc về kinh tế. - Công bằng trong khuôn khé pháp luật. - Án ninh quốc gia được dam bảo.
- Bao hiểm lúc già yếu và ôm đau. - Hạnh phúc về mặt tinh thần. - Sự tham gia của mỗi cá nhân vào đời sống xã hội. - Binh đăng vẻ giáo dục, y tế.
- Chất lượng đời sông văn hóa. - Quyền tự đo công đân. - Chất lượng môi trường kĩ thuật giao thông. thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, y tế,.
- Chất lượng môi trường sống và khả nang chong ô nhiễm. Có thé thấy, trong tat cả các đặc trưng ma William Bill đưa ra, “an toàn” là nội dụng đầu tiên mà ông cho rằng quan trọng trong việc đánh giá chất lượng cuộc sống của con người. Sự an toàn ma William Bell dé cap dén bao gồm sự an toàn cả về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội mà con người đang tồn tại. Vì vay, cuộc sống của con người thực sự tốt và đầy đủ là cuộc sống đáp ứng được các điều kiện vật chất cũng như tinh thần của con người.
Thái Lan cũng đã xây dựng 37 chỉ tiêu phản ánh nội dung của chất lượng cuộc sống như: ăn, mac, nhà ở, môi trường sống. sức khỏe, giáo dục. Từ đó, Thái Lan đưa ra tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống ở 3 cấp độ: yếu kém (1 sao), trung bình (2 sao) và khá (3 sao). Như vậy, chat lượng cuộc sống là một khái niệm tông hợp, có liên quan đến tất cả mọi mặt của cuộc sống con người.
Chất lượng cuộc sông thé hiện sự thỏa mãn những nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần của con người, cộng đồng và toàn thé xã hội. Chất lượng cuộc sống của người dân là một trong những mục tiêu phan dau của mỗi quốc gia nhằm đáp ứng sự phát triển bền vững của mọi quốc gia. Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư Chat lượng cuộc sống là một van đẻ rộng và phong phú, tương đổi phức tap. Van dé này thường không có một tiêu chí cụ thé nào mang tính chất tong hợp đề phân tích, so sánh và đo lường chất lượng cuộc sống của người dân ở một quốc gia nảo đó.
Chỉ số phat triển con người (HDI) là chỉ tiêu được Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đưa ra vào năm 1990 nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống của người đân trên bình diện quốc tế và quốc gia. Chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển của con người ở góc độ phát triển kinh tế - xã hội như: con người được sống thọ và khỏe mạnh, được học hành, được ăn no mặc am,. Hiện nay, chỉ SỐ phát triển con người là thước đo tông quát về sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Đồng thời, đây là công cụ so sánh vẻ thành tựu phát triển con người và tiễn bộ xã hội giữa các quốc gia trên thế giới trong cùng một thời điểm.
Ba chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng cuộc sống con người bằng HDI như sau: - Chỉ số về sức khỏe: thể hiện một cuộc sống lâu đài và mạnh khỏe của con người, được đo băng tuôi thọ trung bình tính từ lúc sinh ra. - Chỉ số về giáo dục: thể hiện trình độ kiến thức của con người, được đo bằng chỉ số năm học bình quân của số người từ 25 tuổi trở lên và chỉ số năm học hy vọng bình quân của trẻ em ở độ tuôi đi học. - Chi số về kinh tế: thé hiện mức sống của con người, được do bằng GDP thực tế bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương (PPP). Khi chất lượng cuộc sông của người dân tăng lên thì các chỉ số thành phần của HDI cũng tăng lên.
Các chỉ số về sức khỏe, giáo dục và kinh tế đều nhận giá trị từ 0 đến 1. Khi giá trị càng tiến gần về | thì đồng nghĩa với trình độ phát triển và xếp hạng chất lượng cuộc sống của một quốc gia hay lãnh thổ càng cao (với 1 là thứ hạng cao nhất). Ngược lại, chỉ số HDI càng dần về giá trị 0 thì chất lượng cuộc sống càng thấp. Đối với cấp độ phạm vi đánh giá là một trong những tinh của Việt Nam, Binh Phước còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thông kê các chỉ số phản ánh chất lượng cuộc sống dan cư địa phương.
Vì vậy, việc đánh giá chất lượng cuộc sống cap tỉnh chỉ đựa vào một số tiêu chí cơ bản như sau: 13 1. Về kinh tế Chỉ số về kinh tế phản ánh kha năng con người có thé dam bảo cuộc sông của mình thông qua GDP, GDP bình quân đầu người, thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình và tỉ lệ hộ nghèo của một địa phương nào đó. * GDP và GDP bình quân đầu người. Hiện nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới đều sử dụng tiêu chí thu nhập bình quân đầu người là một trong những tiêu chí chính nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân.
GDP và GDP bình quân đầu người cũng phân nào phản ánh thu nhập bình quân đầu người của một địa phương nào đó. - GDP (tổng sản phẩm quốc nội) là tông sản lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nên kinh tế tạo ra không phân biệt người trong nước hay người nước ngoài làm ra trong một thời kì nhất định, thông thường là thời gian một năm. GDP không bao gồm các khẩu trừ với khoản khấu hao vốn vật chat hay sự suy giảm xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên.