Chương I cũng trình bày đối tượng và phương pháp nghiên cứu áp dụng trong bài luận văn. Qua đó đánh giá được tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Những cơ sở lý thuyết để tiến hành nghiên cứu sẽ được trình bày trong Chương II. 123doc 9 CHƢƠNG II TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ CỦA NHTM VÀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về xếp hạng tín dụng: 2.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng: Xếp hạng tín dụng là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng anh (credit ratings) do John Moody đưa ra vào năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín dụng lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt là AAA đến C (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế).
Chúng ta có thể điểm qua một số định nghĩa về xếp hạng tín dụng như sau: Theo Bohn, John A viết trong cuốn “Phân tích rủi ro trên các thị trường đang chuyển đổi” thì “xếp hạng tín dụng là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành có thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán trong suốt thời gian tồn tại của nó”. Theo định nghĩa của công ty Merrill Lynch thì “xếp hạng tín dụng là đánh giá hiện thời của công ty xếp hạng tín dụng về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định. Nói khác đi, đó là cách đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng đang được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn”. Theo công ty Moody’s thì “xếp hạng tín dụng là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ”.
[Doãn Quốc Chinh, 2011] Từ các định nghĩa trên, ta có thể khái quát về XHTD như sau: “XHTD là đánh giá mức độ tin cậy và khả năng trả nợ của ngƣời đi vay thông qua (1) lịch 123doc 10 sử tín dụng, (2) tình hình tài chính hiện tại và (3) khả năng trả nợ trong tƣơng lai, dựa trên hệ thống xếp hạng theo ký hiệu”.2 Đối tƣợng của xếp hạng tín dụng: Các đối tượng của XHTD bao gồm: Xếp hạng tín dụng cá nhân: áp dụng cho các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình. Việc XHTD cá nhân được Ngân hàng thực hiện dựa trên lịch sử vay, trả nợ, những khoản nợ đang tồn tại hoặc nợ quá hạn, đánh giá thu nhập khả dụng, giá trị tài sản đảm bảo, … Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp: đánh giá dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp. Xếp hạng tín dụng quốc gia: việc XHTD quốc gia rất quan trọng, vì đó là cơ sở cho các chủ nợ xác định lợi suất trái phiếu mà các nước này phát hành, để hấp dẫn vốn FDI, ngoài ra XHTD quốc gia cũng ảnh hưởng đến XHTD các doanh nghiệp thuộc quốc gia đó. Để đánh giá tín nhiệm, các hãng xếp hạng tín nhiệm thường dựa trên nhiều chỉ tiêu chính trị, xã hội và kinh tế.
Các chỉ tiêu này thường là thu nhập bình quân đầu người, tăng trưởng GDP, lạm phát, nợ nước ngoài, trình độ phát triển của nền kinh tế, lịch sử vỡ nợ,… Xếp hạng tín dụng các công cụ đầu tư: như trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và các loại trái phiếu, kì phiếu ngân hàng, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường,… Việc XHTD các công cụ được thực hiện dựa trên một số chỉ tiêu như: khả năng thanh khoản, kì hạn, lãi suất, mệnh giá, các rủi ro có thể gặp phải. Ở Việt Nam hiện nay, XHTD chỉ chủ yếu áp dụng cho đối tượng là khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp.2 Tầm quan trọng của xếp hạng tín dụng: 2.1 Đối với NHTM: Cơ sở để lựa chọn khách hàng cho vay: Thông qua kết quả xếp hạng tín nhiệm khách hàng, ngân hàng sẽ đánh giá được mức độ tín nhiệm của từng khách hàng vay vốn, xác định được mức độ rủi ro khi cung cấp khoản vay, khả năng trả nợ vay. Dựa vào kết quả xếp hạng tín nhiệm 123doc 11 ngân hàng sẽ quyết định cho vay hay từ chối cho vay đảm bảo tính khách quan, khoa học. Xây dựng chính sách khách hàng: Mỗi nhóm khách hàng ngân hàng sẽ có những cách ứng sử khác nhau vừa nhằm thu hút khách hàng vừa đảm bảo quản lý rủi ro, thông qua kết quả xếp hạng tín nhiệm khách hàng, ngân hàng sẽ phân chia khách hàng thành những nhóm dựa trên mức độ rủi ro.
Những khách hàng có tín nhiệm cao, mức độ rủi ro thấp sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi hơn so với những khách hàng có mức độ rủi ro cao hơn. Chính sách khách hàng bao gồm chính sách về cơ chế tín dụng, chính sách về lãi suất vay vốn, các loại phí. Xây dựng danh mục tín dụng: Dựa và kết quả xếp hạng tín nhiệm ngân hàng sẽ đánh giá được mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh của khách hàng từ đó mà xây dựng danh mục tín dụng phù hợp.2 Đối với thị trƣờng tài chính: Ngày nay hầu hết những thị trường chứng khoán của các nước trên thế giới đều tồn tại các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, đây là xu thế phù hợp với điều kiện kinh tế thế giới hiện nay, vì kết quả xếp hạng tín nhiệm là một nguồn cung cấp thông tin cho những nhà đầu tư, kết quả xếp hạng tín nhiệm làm xóa tan đi khoảng tối thông tin giữa người cho vay và người đi vay. Vai trò quan trọng của xếp hạng tín nhiệm trên thị trường tài chính là: Các nhà đầu tư thông qua kết quả XHTD của từng doanh nghiệp, có thể thực hiện chiến lược đầu tư sao cho chi phí thấp nhất mà vẫn thu được lợi nhuận tối đa, tránh được việc đầu tư nhầm những công ty có tình hình kinh doanh không tốt.
Đối với các tổ chức tài chính đi vay và các tổ chức tài chính khác, có thể sử dụng kết quả XHTD để tạo niềm tin với nhà đầu tư, quảng bá hình ảnh của tổ chức, cung cấp thông tin cho đối tác, tạo niềm tin của thị trường, từ đó có chiến lược huy động vốn hiệu quả với chi phí thấp, hoàn thành mục tiêu huy động lượng vốn cần thiết.3 Các phƣơng pháp xếp hạng tín dụng: 2.1 Phƣơng pháp chuyên gia: Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập và xử lý những đánh giá dự báo bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến các chuyên gia giỏi thuộc một lĩnh vực hẹp của khoa học. Trong XHTD phương pháp này dựa trên những kinh nghiệm đã được đúc kết của các chuyên gia, qua đó để có thể tìm ra bản chất của mối quan hệ giữa có nguy cơ phá sản và các nhân tố ảnh hưởng đến nó. Kinh nghiệm được tích lũy từ: Những quan sát và trải nghiệm thực tế mang tính chủ quan. Phỏng đoán về mối tương quan của việc kinh doanh và có nguy cơ phá sản.
Các kiến thức kinh tế liên quan tới việc có nguy cơ phá sản. Các ưu và nhược điểm của phương pháp chuyên gia. Ƣu điểm: Tận dụng được kinh nghiệm và tri thức chuyên sâu của các chuyên gia trong chuyên ngành của họ.Đồng thời, do kết quả đánh giá được tập hợp từ nhiều người nên mức độ tin cậy khá cao. Kết quả được tập hợp từ nhiều người nên nó được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau, tránh được sự phiến diện, một chiều.
Nhƣợc điểm: Chi phí đánh giá có thể rất cao khi số lượng người tham gia đông và số vòng thu thập ý kiến gồm nhiều lần. Không thể loại bỏ hoàn toàn khía cạnh chủ quan trong kết quả đánh giá.2 Phƣơng pháp thống kê: Phương pháp thống kê là một quá trình bao gồm điều tra thống kê, khái quát hoá thông tin (còn gọi là tổng hợp thống kê), phân tích và dự báo. Đây chính là quá trình mô hình hóa toán học các vấn đề cần phân tích theo mục tiêu của nghiên cứu. Mô hình thống kê kiểm định các giả thuyết sử dụng các mô hình thống kê trên bộ dữ liệu thực nghiệm.
Trong quá trình XHTD, sử dụng các phương pháp thống kê đòi hỏi việc đưa ra các giả thuyết liên quan tới tiêu chuẩn nguy cơ phá sản tiềm năng. Những giả thuyết này xem xét đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp là cao, thấp hơn nguy cơ phá sản trung bình của những doanh nghiệp có nguy cơ phá 123doc 13 sản so với những doanh nghiệp không có nguy cơ phá sản. Những thông tin về nguy cơ phá sản của mỗi doanh nghiệp đều được thể hiện qua bộ số liệu thực nghiệm, những giả thuyết này có thể bị bác bỏ hoặc được chấp nhận một cách phù hợp.4 Mô hình xếp hạng tín dụng: Mô hình XHTD đơn giản nhất được sử dụng là mô hình một biến số. Chỉ tiêu đánh giá phải được thống nhất trong mô hình.
Tỷ suất tài chính được sử dụng trong mô hình XHTD một biến số bao gồm các chỉ tiêu thanh khoản, chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu cân nợ, chỉ tiêu lợi tức, chỉ tiêu vay nợ và chi phí trả lãi. Các chỉ tiêu phi tài chính thường được sử dụng bao gồm thời gian hoạt động của doanh nghiệp, số năm kinh nghiệm và trình độ của nhà quản lý cấp cao, triển vọng ngành, thị trường đầu ra. Nhược điểm của mô hình này là kết quả dự báo khó chính xác nếu thực hiện phân tích và cho điểm các chỉ tiêu đánh giá một cách riêng biệt. Để khắc phục tình trạng này, các nhà nghiên cứu đã phát triển những mô hình kết hợp nhiều biến số để dự báo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp như mô hình phân tích hồi quy, phân tích lô gic, phân tích xác suất có điều kiện, phân tích phân biệt nhiều biến số.
Ngân hàng thương mại sẽ áp dụng nhiều mô hình khác nhau tùy theo đối tượng phân tích là cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng. Trong đề tài nghiên cứu này chỉ đề cập tới khách hàng doanh nghiệp. Những mô hình này sử dụng ổn định và có thể điều chỉnh khi thấy có sự khác nhau giữa xếp hạng với thực tế.