CHƯƠNG 1 Chương này đã tóm lược sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu của đề tài, đưa ra câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu đồng thời cũng nêu lên giới hạn, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài cũng như cấu trúc của luận văn. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC 2. Giới thiệu Chương này trước hết sẽ giới thiệu khái niệm về sự hài lòng công việc cũng như các học thuyết liên quan đến sự hài lòng công việc, động viên trong công việc bao gồm các học thuyết nổi tiếng như Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow, Thuyết EGR của Alderfer, Thuyết thành tựu của McClelland, Thuyết hai nhân tố của Herzberg, Thuyết kỳ vọng của Vroom, Thuyết công bằng của Adam và mô hình đặc điểm công việc của Hackman và Oldham. Trên cơ sở ứng dụng mô hình nghiên cứu của Smith với thang đo chỉ số mô tả công việc JDI và lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow xây dựng mô hình nghiên cứu ban đầu và đưa các các chỉ số đánh giá được dùng để đo lường sự hài lòng công việc theo các yếu tố và sự hài lòng công việc nói chung.
Lý thuyết về sự hài lòng công việc của người lao động 2. Khái niệm Một trong các định nghĩa đầu tiên về sự hài lòng hay thỏa mãn công việc và được trích dẫn nhiều nhất có thể kể đến là định nghĩa của Robert Hoppock (1935, trích dẫn bởi Scott và đồng sự, 1960). Tác giả cho rằng, việc đo lường sự hài lòng công việc bằng hai cách: (a) đo lường sự hài lòng công việc nói chung và (b) đo lường sự hài lòng công việc ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến công việc. Ông cũng cho rằng sự hài lòng công việc nói chung không phải chỉ đơn thuần là tổng cộng sự hài lòng của các khía cạnh khác nhau, mà sự hài lòng công việc nói chung có thể được xem như một biến riêng.
Như vậy, sự hài lòng công việc của người lao động được định nghĩa và đo lường trên cả hai khía cạnh: sự hài lòng theo các yếu tố thành phần công việc và sự hài lòng chung đối với công việc. Mức độ hài lòng theo các thành phần công việc Theo Smith (1969), “sự hài lòng với công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ”. Các khía cạnh khác nhau trong công việc theo Smith bao gồm bản chất công việc, cơ hội thăng tiến, lãnh đạo, quan hệ đồng nghiệp và tiền lương. 10 Theo Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa sự hài lòng công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau trong công việc.
Tác giả nhấn mạnh các nguyên nhân của sự hài lòng công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ, và các phần thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tổ chức. Nghiên cứu của Andrew E. Clark (1998)[20] chỉ ra rằng các khía cạnh sau ảnh hưởng tới sự hài lòng của người lao động về thu nhập, thời gian làm việc, triển vọng trong tương lai (thăng tiến), mức độ công việc (khó hay dễ), bản chất công việc, và đồng nghiệp. Mức độ hài lòng chung trong công việc Theo Spector (1997), sự hài lòng công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào.
Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ. Theo Kreitner và Kinicki (2007), sự hài lòng công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình. Theo Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự hài lòng công việc được định nghĩa chung là mức độ người lao động yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người lao động (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ.
Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ hài lòng công việc càng cao. Weiss (1967) thì cho rằng sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Tác giả nhận thấy rằng chính Weiss đã mở rộng khái niệm của Ellickson và Logsdon (2001)[20] qua sự thể hiện của người lao động trong sự hài lòng hay không hài lòng công việc bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của nhân viên. Rõ ràng trên thực tế qua những biểu hiện của nhân viên có thể biết ngay người đó có hài lòng với công việc hay 11 không.
Thật vậy, với một nhân viên bất mãn trong công việc, ta dễ dàng nhận thấy qua những hành động thể hiện hàng ngày như: chống đối không làm theo yêu cầu của cấp trên, tìm kiếm cơ hội mới. Nhưng ngược lại nếu một nhân viên cảm thấy hài lòng trong công việc thì biểu hiện của họ rõ ràng trong thực tế bằng sự trung thành với công ty, luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt công việc của mình, tin tưởng vào đồng nghiệp cũng như lãnh đạo công ty. Như vậy, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự hài lòng công việc nhưng chúng ta có thể rút ra được rằng một người được xem là có hài lòng công việc thì người đó sẽ có cảm giác thoải mái, dễ chịu đối với công việc của mình nói chung. Liên quan đến nguyên nhân nào dẫn đến sự hài lòng công việc thì mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn nhận và lý giải riêng qua công trình nghiên cứu của họ.
Với đề tài nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của Weiss vì tính bao quát và đầy đủ của định nghĩa này. Lý thuyết về sự hài lòng công việc Nghiên cứu sự hài lòng công việc thường được các nhà nghiên cứu gắn liền với các lý thuyết về động viên và sự hài lòng công việc. Sau đây là tóm tắt một số lý thuyết đáng lưu ý. Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Nói đến sự hài lòng nói chung người ta thường nhắc đến lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943).
Theo ông nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: sinh lý, an toàn, xã hội, tự trọng và tự thể hiện. Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bấc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện. Từ lý thuyết này, ta có thể thấy nhà quản lý cần phải biết được người lao động trong tổ chức của mình đang ở cấp bậc nhu cầu nào để từ đó động viên họ bằng cách đáp ứng các nhu cầu cá nhân đó.1 – Mô hình tháp nhu cầu Abraham Maslow (1943) Thuyết ERG của Alderfer (1969) Nhìn chung lý thuyết này giống như thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow, tuy nhiên có một số khác biệt như sau: thứ nhất, số lượng nhu cầu được rút gọn còn ba thay vì năm, đó là nhu cầu tồn tại nhu cầu liên đới và nhu cầu phát triển; thứ hai, khác với Maslow, Alderfer cho rằng, có thể có nhiều nhu cầu xuất hiện trong cùng một thời điểm (Maslow cho rằng chỉ có một nhu cầu xuất hiện ở một thời điểm nhất định); thứ ba, là yếu tố bù đắp giữa các nhu cầu, một nhu cầu không được đáp ứng có thể được bù đắp bởi nhu cầu khác (Kreitner & Kinicki, 2007) .Ví dụ: một người lao động không được đáp ứng nhu cầu về thu nhập nhưng có thể được bù đắp bởi môi trường làm việc tốt, công việc phù hợp,cơ hội được đào tạo thăng tiến, v.), trong khi Maslow thì không thừa nhận điều đó. Thuyết thành tựu của McClelland (1988) Lý thuyết của McClelland tập trung vào ba loại nhu cầu của con người: nhu cầu về thành tựu, nhu cầu về quyền lực và nhu cầu về liên minh.
Chúng được định nghĩa như sau (Robbins, 2002): 13 - Nhu cầu về thành tựu là sự cố gắng để xuất sắc, để đạt được thành tựu đối với bộ chuẩn mực nào đó, nỗ lực để thành công. - Nhu cầu về quyền lực là nhu cầu khiến người khác cư xử theo cách họ mong muốn. - Nhu cầu về liên minh là mong muốn có được các mối quan hệ thân thiện và gần gũi với người khác. Nhu cầu thành tựu của McClelland được thể hiện trong nghiên cứu này dưới dạng đặc điểm công việc.
Công việc cần được thiết kế sao cho người lao động đạt được “thành tựu” họ mong muốn. Còn nhu cầu liên minh được thể hiện ở mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp. Cuối cùng, nhu cầu quyền lực được thể hiện ở cơ hội được thăng tiến. Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại: các nhân tố động viên và các nhân tố duy trì.
Các nhân tố động viên gồm thành tựu, sự công nhận của người khác, bản chất công việc, trách nhiệm công việc, sự thăng tiến và sự tiến bộ, và triển vọng của sự phát triển. Nếu người lao động được đáp ứng sẽ mang lại sự hài lòng trong công việc cho họ, ngược lại họ sẽ không có sự hài lòng. Các nhân tố duy trì gồm chính sách công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, vị trí công việc và sự đảm bảo của công việc. Nếu được đáp ứng sẽ không có sự bất mãn trong công việc, ngược lại sẽ dẫn đến sự bất mãn (Efere, 2005).
Như vậy, Herzberg đã tách biệt tương đối hai nhóm nhân tố này và cho rằng chỉ có những nhân tố động viên mới có thể mang lại sự hài lòng cho nhân viên và nếu không làm tốt các nhân tố duy trì sẽ dẫn đến sự bất mãn của nhân viên. Thuyết công bằng của Adam (1963) J. Stacey Adams cho rằng nhân viên có xu hướng đánh giá sự công bằng bằng cách so sánh công sức họ bỏ ra so với những thứ họ nhận được cũng như so sánh tỷ lệ đó của họ với tỷ lệ đó của những đồng nghiệp trong công ty. Nếu kết quả của sự so sánh đó là sự ngang bằng nhau tức công bằng thì họ sẽ tiếp tục duy trì nỗ lực và 14 hiệu suất làm việc của mình.