Chương 1 trình bày lý do chọn đề tài, mục đích chọn đề tài, phạm vi nghiên cứu, phương pháp, đối tượng nghiên cứu và tầm quan trọng của việc chọn đề tài nghiên cứu. Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết của đề tài và mô hình đề xuất. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan cơ sở lý thuyết về ngân hàng số và dịch vụ ngân hàng số 2.
Khái niệm về ngân hàng số Theo Keivani và cộng sự (2012), ngân hàng số bao gồm tất cả các dịch vụ ngân hàng được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin và viễn thông hiện đại mà khách hàng không cần phải lên mạng hoặc tiếp xúc với trung gian hoặc nhân viên. Do đó, ngân hàng số có thể được hiểu là dịch vụ ngân hàng ứng dụng công nghệ giúp khách hàng không phải giao dịch trực tiếp với nhân viên do quá trình xử lý được số hoá. Theo Gaurav Sarma (2017), ngân hàng số là số hoá tất cả các hoạt động và dịch vụ. Nói cách khác, ứng dụng ngân hàng số này tích hợp tất cả các hoạt động ngân hàng như quản lý rủi ro, nguồn vốn, tiếp thị, quảng lý bán hàng và phát triển sản phẩm.
Khách hàng vẫn có thể thực hiện mọi giao dịch mà không cần đến ngân hàng. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng số Thulani và Chitura (2009) nhận định rằng ‘‘dịch vụ ngân hàng kỹ thuật số cung cấp cho khách hàng cơ hội tiếp cận và kiểm soát tài khoản, nhận thông tin cập nhật về sản phẩm, dịch vụ từ tổ chức tài chính thông qua kênh trực tuyến”. Các hoạt động như chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, tải xuống sao kê và báo cáo giao dịch có thể được thực hiện mọi lúc, mọi nơi. Ngoài ra, ngân hàng điện tử mang đến sự linh hoạt cho khách hàng trong việc quản lý tài chính, không bị giới hạn về thời gian.
Về cơ bản, đây là một hình thức tự phục vụ giúp người dùng thực hiện các giao dịch ngân hàng một cách thuận tiện, vượt ra khỏi các rào cản về không gian và thời gian. Theo Shaikh và cộng sự (2015) định nghĩa ngân hàng di động là sản phẩm hoặc dịch vụ được cung cấp bởi ngân hàng hoặc viện tài chính vi mô cho các giao dịch tài chính và phi tài chính với thiết bị di động, cụ thể là điện thoại di động, điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng. Theo tác giả Gaurav Sarma (2017) đã định nghĩa, dịch vụ ngân hàng số là một ứng dụng bao gồm các hoạt động và hoạt động sau (tất cả các dịch vụ ngân hàng truyền thống hoạt động 24/7 trên điện thoại di động, máy tính và các thiết bị thông minh tương thích mà không cần sự hiện diện của khách hàng tại địa điểm giao dịch của ngân hàng). Dịch vụ ngân hàng số bao gồm các hoạt động như sau: Nhận sao kê ngân hàng, rút tiền mặt, chuyển tiền, quản lý tài khoản séc/tiết kiệm, mở tài khoản ngân hàng kỹ thuật số, quản lý khoản vay, thanh toán hóa đơn, quản lý séc, giám sát hồ sơ 9 giao dịch.
Ngân hàng số là các dịch vụ và sản phẩm mà khách hàng có thể truy cập mọi lúc, mọi nơi vì chúng dựa trên nền tảng Internet và kỹ thuật số. Trong khi thuật ngữ ngân hàng số là ngân hàng cung cấp các tiện ích và dịch vụ ngân hàng trực tuyến hoặc bằng các kênh điện tử khác. Dịch vụ ngân hàng số là một hoạt động hoặc dịch vụ ngân hàng có cơ sở sử dụng hệ thống điện tử hoặc kỹ thuật số thông qua tài sản của ngân hàng, tài sản của khách hàng tiềm năng hoặc khách hàng của ngân hàng, tất cả các quy trình đều được thực hiện độc lập và tự động. Dịch vụ ngân hàng số là dịch vụ được nhiều ngân hàng thương mại tại Việt Nam triển khai mạnh mẽ và được nhiều khách hàng đón nhận.
Mô hình dịch vụ ngân hàng số có nhiều sản phẩm đa dạng, bao gồm phương thức thanh toán trên nền tảng di động, thẻ tín dụng phi vật lý, dịch vụ phát hành máy ATM, tư vấn khách hàng được tạo ra thông qua công nghệ trí tuệ nhân tạo. và các dịch vụ giao dịch phi vật lý truyền thống tích hợp kỹ thuật số. Dịch vụ ngân hàng số đang thâm nhập thị trường và bắt kịp xu hướng thế giới, cụ thể, theo báo cáo tài chính năm 2023 của BIDV, số lượng người dùng ứng dụng ngân hàng số BIDV Smartbanking tính đến nay đã lên tới gần 3 triệu người, tiếp theo là số lượng khách hàng sử dụng ứng dụng ngân hàng số của các ngân hàng như Vietcombank, Techcombank. Tốc độ tăng trưởng mạnh hơn những năm trước.
Có thể thấy, dịch vụ ngân hàng số không chỉ đáp ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính đa dạng của người dùng mà còn là siêu ứng dụng số tích hợp đầy đủ chức năng, có thể đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng chỉ gói gọn trong một kênh dịch vụ. Các dịch vụ ngân hàng số của ngân hàng thương mại Nhiều cách phân loại khác nhau đã được áp dụng để phân loại dịch vụ ngân hàng số. Dựa trên các dịch vụ ngân hàng trực tuyến được cung cấp, dịch vụ ngân hàng số có thể được nhóm thành hai loại: (i) Các dịch vụ cơ bản bao gồm truy vấn số dư, chuyển tiền và thanh toán hóa đơn. Xem xét các dịch vụ được cung cấp bởi ngân hàng di động, các dịch vụ có thể được phân thành ba loại lớn, cụ thể là kế toán, môi giới và thông tin (Tiwari và cộng sự, 2006).
Loại dịch vụ được cung cấp qua ngân hàng trực tuyến có vẻ giống với ngân hàng di động và việc đa dạng hóa dịch vụ là cần thiết để tạo ra lợi thế cạnh tranh (Laukkanen, 2016). Các lợi ích của ngân hàng số đối với khách hàng cá nhân Theo nghiên cứu của Napoletano (2021) và Sardana và cộng sự (2018), khách hàng sẽ được phép truy cập vào dịch vụ ngân hàng số để thực hiện giao dịch trên nhiều thiết bị có kết nối Internet một cách dễ dàng như máy tính cá nhân, điện thoại di động hay bất kỳ thiết bị di động nào khác kể cả trong suốt giờ làm việc của ngân hàng. Haralayya (2021) nói rằng khách hàng chỉ cần sử dụng các dịch vụ trực tuyến và trang web ngân hàng mà không cần đến các điểm giao dịch. Hơn nữa, dịch vụ này ít tốn kém hơn khi sử dụng và cho phép so sánh với các ngân hàng khác nhau để cung cấp lựa chọn ngân hàng tốt nhất trên nhu cầu của khách hàng, theo Napoletano (2021).
Theo Singhania (2018), ngân hàng số có thể giúp giảm chi phí, rủi ro và thủ tục hành chính cũng như bảo vệ dữ liệu khách hàng ở bất kỳ địa điểm nào. Ngoài ra, ngân hàng số có thể tăng số lượng chi nhánh và phát triển các dịch vụ mới để thu hút khách hàng bằng cách sử dụng ngân hàng số (Haralayya, 2021). Theo tác giả Singhania (2018), việc tự động hoá dịch vụ ngân hàng cũng giúp lưu trữ dữ liệu giao dịch của khách hàng. Theo Haralayya (2021), điều này cũng giúp giảm thiểu việc sử dụng tiền mặt và nguy cơ tiền giả.
So sánh ngân hàng số và ngân hàng điện tử Mặc dù hai thuật ngữ “ngân hàng số’’ và ‘‘ngân hàng điện tử’’ có vẻ có thể hoán đổi cho nhau nhưng thực tế có những khác biệt cơ bản giữa ngân hàng số và ngân hàng điện tử. Ngân hàng điện tử chỉ bao gồm một số chức năng giao dịch của hệ thống ngân hàng lõi cơ bản. Ngân hàng điện tử thường được truy cập qua Internet và cung cấp các chức năng ngân hàng cơ bản như quản lý tài khoản và truy cập bảng sao kê. Khả năng của hệ thống ngân hàng điện tử còn hạn chế và không thể mở rộng nhanh chóng để cung cấp thêm các dịch vụ ngân hàng cho người tiêu dùng.
Ngân hàng số linh hoạt hơn nhiều và cho phép ngân hàng bổ sung, mở rộng các tính năng nhanh hơn nhiều so với các hệ thống truyền thống. Ngân hàng số dựa vào tự động hóa quy trình cấp cao, các dịch vụ dựa trên web và giao diện chương trình ứng dụng (API) để cung cấp cho ngân hàng và khách hàng của họ mức độ hiệu quả về chi phí, bảo mật và tính linh hoạt cao. Các giải pháp của ngân hàng số cho phép khách hàng được kỹ thuật số hóa hoàn toàn, tạo ra các luồng dữ liệu theo thời gian thực và tăng tốc các phân tích chính. Để phân biệt được những khác nhau giữa ngân hàng số và ngân hàng điện tử, tác giả đã tổng hợp và trình bày ở bảng sau đây: 11 Bảng 2.
So sánh sự khác nhau giữa ngân hàng số và ngân hàng điện tử Tiêu chí Ngân hàng số Ngân hàng điện tử (Digital Banking) (E-banking) Là một mô hình ngân hàng, nó số hoá tất cả các Ngân hàng điện tử của các hoạt động và dịch vụ của ngân hàng trên hệ ngân hàng là một dịch vụ Khái thống so với các hình thức ngân hàng truyền ngân hàng trực tuyến cho niệm thống. phép người dùng kiểm tra thông tin và giao dịch bằng hình thức online. Ngân hàng số có phạm vi rộng và toàn diện Chỉ là một phần của việc sử hơn ngân hàng điện tử. dụng số hoá trong lĩnh vực Bản chất ngân hàng, và nó không đòi hỏi số hoá phải được áp dụng cho toàn bộ hoạt động ngân hàng.
Phương Website và điện thoại, máy tính, laptop, ipad Điện thoại, máy tính, tiện hoạt kết nối internet. laptop, ipad có kết nối động internet. Ngân hàng số có tất cả các tính năng của một Ngân hàng điện tử chỉ là ngân hàng thực tế, chẳng hạn như: một dịch vụ được phát triển • Vay vốn, vay tiêu dùng để thêm vào các dịch vụ • Rút tiền, chuyển tiền ngân hàng truyền thống, tập • Quản lý tài khoản thanh toán và thẻ trung vào các tính năng cơ Tính • Tham gia đầu tư, bảo hiểm bản như: • Quản lý tài chính của cá nhân và tổ chức • Chuyển tiền trong và năng Các ngân hàng đảm bảo rằng ngân hàng số rất ngoài hệ thống an toàn và chúng được kiểm soát chặt chẽ. • Thanh toán hóa đơn điện tử • Tra cứu số dư tài khoản • Gửi tiền tiết kiệm Đối với ngân hàng Đối với ngân hàng: • Tăng tốc độ giao dịch, tăng năng suất lao • Nâng cao hiệu quả sử động: Chỉ với thiết bị có kết nối internet, mọi dụng vốn nhờ tính tiện ích, thao tác đều được tự động hóa và xử lý với tốc tiện lợi, nhanh chóng, chính độ nhanh chóng, điển hình là dịch vụ xác và bảo mật.
chuyển/nhận tiền.