CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của ngân hàng thương mại 1. Nghiên cứu về các nhân tố vi mô ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của ngân hàng thương mại 1. Nghiên cứu đa quốc gia Gropp và Heider (2009) phân tích các nhân tố ảnh hưởng tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các 200 NHTM lớn của Hoa Kỳ và châu Âu trong giai đoạn 1991 đến 2004.
Nghiên cứu sử dụng hồi quy dữ liệu bảng (FEM, REM) và hồi quy xu hướng tổng quát (GMM) để phân tích dữ liệu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ lệ nợ xấu tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM của Hoa Kỳ và châu Âu, việc gia tăng tỷ lệ chi trả cổ tức cho thấy tỷ lệ nợ trong cấu trúc vốn của các NHTM cao hơn. Các NHTM đã tài trợ cho sự tăng trưởng của bảng cân đối kế toán dựa trên tổng nợ không phải tiền gửi trong giai đoạn nghiên cứu. Điều này đã dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu tổng nợ phải trả của các ngân hàng.
Tuy nhiên, tỷ trọng vốn chủ sở hữu của các NHTM vẫn không đổi. Afolabi (2014) đánh giá vai trò của cấu trúc sở hữu NHTM đối với tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 244 NHTM trên 44 quốc gia thuộc khu vực Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các NHTM do gia đình quản lý có xu hướng có tỷ lệ nợ thấp hơn. Quyền kiểm soát quá mức của chủ sở hữu kiểm soát có thể làm tăng đáng kể tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM.
Các NHTM cần được quản lý tốt hơn vì tỷ lệ đòn bẩy tài chính quá mức là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính. ROA có mối tương ngược chiều với tỷ lệ đòn bẩy tài chính, trong khi quy mô NHTM có mối tương quan thuận chiều. Các cơ quan quản lý nên đưa tỷ lệ đòn bẩy vào chỉ tiêu giám sát giám sát ngân hàng nhằm tránh sử dụng đòn bẩy ngân hàng quá mức. Ngoài ra, nên bắt buộc 9 ngân hàng có cơ cấu vốn tối ưu với sự cân bằng giữa tỷ trọng nợ (nợ phải trả) và vốn chủ sở hữu.
Anarfo (2015) nghiên cứu tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM thuộc 37 quốc gia ở châu Phi cận Sahara giai đoạn 2000-2006. Kết quả hồi quy dữ liệu bảng cho rằng tỷ suất sinh lợi trên tài sản, quy mô, tài sản hữu hình/tài sản/ tài sản, cơ hội tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM ở châu Phi cận Sahara. Al-Mutairi và Naser (2015) nghiên cứu cấu trúc vốn của các NHTM thuộc khối hợp tác vùng vịnh (GCC). Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu bảng của các NHTM cho giai đoạn 2001-2010.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ROA và tính thanh khoản, tài sản hữu hình ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM khối GCC. Trong khi đó, cơ hội tăng trưởng lại tác động thuận chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính các NHTM thuộc GCC. Những phát hiện của nghiên cứu này đã chuyển tải hiểu biết sâu sắc về cấu trúc vốn của các ngân hàng GCC. Nó được kỳ vọng sẽ chỉ ra các nhân tố cần thiết cần thiết để xây dựng kế hoạch kinh doanh cũng như xác định các nhân tố đằng sau các quyết định tài chính và điều chỉnh quy mô nguồn vốn của các NHTM.
Umar và Sun (2016) nghiên cứu tỷ lệ đòn bẩy tài chính NHTM của các quốc gia thuộc khối các nền kình tế mới nổi (BRICS) giai đoạn 2007-2014. Trong số 188 ngân hàng này, 24 ngân hàng thuộc Brazil, 64 ngân hàng thuộc Nga, 62 ngân hàng thuộc Ấn Độ, 24 ngân hàng thuộc Trung Quốc và 14 ngân hàng thuộc Nam Phi. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đòn bẩy tài chính của NHTM cao là kết quả của thanh khoản thấp. ROA, quy mô NHTM càng lớn thì tỷ lệ nợ trong cơ cấu vốn của NHTM có xu hướng giảm.
NHTM hoạt động ổn định thì tỷ lệ đòn bẩy tài chính giảm, đi kèm theo đó là sự gia tăng rủi ro nợ xấu. Các phát hiện của nghiên cứu này rất quan trọng đối với việc các nhà quản trị các ngân hàng và các nhà hoạch định chính sách tại các thị trường mới nổi. Việc giảm tỷ lệ đòn bẩy dẫn đến thanh khoản cổ phiếu của các ngân hàng thấp hơn. 10 Al-Harby (2019) so sánh các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 79 ngân hàng Hồi giáo và 139 ngân hàng chuyển đổi ở 16 quốc gia tại khu vực Trung Đông (MENA) giai đoạn 1989-2008.
Phương pháp hồi quy xu hướng tổng quát (GMM) được sử dụng để kiểm định sự phù hợp của mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Nghiên cứu cho thấy rằng các ngân hàng Hồi giáo có tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn và tính thanh khoản cao hơn và chúng không rủi ro hơn các ngân hàng thông thường. Kết quả hồi quy GMM cho thấy khả năng sinh lời, tài sản hữu hình, sự ổn định ngân hàng và tuổi ngân hàng có tương quan nghịch và đáng kể với đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các ngân hàng. Quy mô ngân hàng, thanh khoản và lạm phát có mối quan hệ thuận chiều và đáng kể với tỷ lệ đòn bẩy tài chính.
Lá chắn thuế tác động thuận chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của ngân hàng Hồi giáo nhưng không ảnh hưởng đến các ngân hàng chuyển đổi. Những phát hiện của nghiên cứu thực nghiệm này sẽ có giá trị lớn đối với các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản trị các ngân hàng thương mại. Các NĐT và cổ đông có thể khai thác kết quả của nghiên cứu này để xác định giá thị trường hợp lý của cổ phiếu ngân hàng. Ngoài ra, nhà quản trị ngân hàng có thể dựa trên các phát hiện của nghiên cứu này để đưa ra các quyết định tài chính phù hợp với ngân hàng của họ.
Nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Âu Caglayan và Sak (2010) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 25 ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1992-2007. Nghiên cứu thực hiện giai đoạn của quá trình tái cơ cấu trong Khu vực Ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ, để tìm ra sự khác biệt giữa các nhân tố quyết định cấu trúc vốn sau khủng hoảng và giai đoạn tái cơ cấu đối với các ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ. Hồi quy dữ liệu bảng (FEM, REM) được sử dụng để phân tích dữ liệu nghiên cứu. Kết quả hồi quy cho thấy quy mô và giá trị số sách thị trường có tác động thuận chiều, trong khi tài sản hữu hình/tài sản và ROA có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của NHTM.
Các kết quả phân tích chỉ ra một số bằng chứng về kỳ vọng của lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết đại diện. 11 Giordana và Schumacher (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đòn bẩy trong lĩnh vực ngân hàng của Luxembourg giai đoạn quý 1/2003– quý 1/2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các khoản nợ ngoại bảng có những tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính trong giai đoạn trước khủng hoảng và khủng hoảng. Tăng trưởng dư nợ, tăng trưởng tiền gửi và thanh khoản cũng cho kết quả tương tự.
Có thể thấy điểm nhấn của nghiên cứu này là các khoản nợ ngoại bảng đóng một vai trò quan trọng đối với đòn bẩy. Các hoạt động ngoại bảng (bao gồm các khoản tín dụng đã cam kết, các khoản bảo lãnh và cam kết giao dịch trong tương lai) hạn chế sự tăng trưởng của đòn bẩy trong giai đoạn trước khủng hoảng, trong khi chúng làm tăng sự tăng trưởng của đòn bẩy trong thời kỳ khủng hoảng. Các ngân hàng có các khoản tín dụng cam kết hoặc bảo lãnh lớn sẽ có xu hướng hạn chế việc mở rộng danh mục cho vay của họ vì họ đã cam kết một lượng tín dụng đáng kể. Hơn nữa, các khoản nợ ngoại bảng lớn ngụ ý rằng trong thời kỳ khủng hoảng, các khoản tín dụng hoặc bảo lãnh đã cam kết được thực hiện, tạo ra mức tăng đòn bẩy lớn hơn so với khi các ngân hàng có ít cam kết hơn.
Nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Phi Ayanda và cộng sự (2013) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 05 NHTM lớn của Nigeria giai đoạn 2006-2010. Kết quả hồi quy Pooled OLS cho thấy ROA, sự ổn định ngân hàng, tài sản hữu hình, cơ hội tăng trưởng, lá chắn thuế tác động ngược chi đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Quy mô ngân hàng, tỷ lệ chi trả cổ tức có vai trò động lực thúc đẩy gia tăng tỷ lệ nợ trong cấu trúc vốn của các NHTM của Nigeria. Shibru và cộng sự (2015) cho thấy rằng ROA, quy mô ngân hàng, tỷ lệ tài sản hữu hình/tài sản và tính thanh khoản là những nhân tố quan trọng quyết định đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các ngân hàng ở Ethiopia.
Tăng trưởng và rủi ro của các ngân hàng không liên quan đến cấu trúc vốn của ngân hàng. Kusi và cộng sự (2016) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 07 NHTM niêm yết tại Gana. Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ BCTC của các NHTM giai đoạn 2005-2012. Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (hiệu ứng cố định – FEM; hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) được sử dụng để kiểm định 12 các giải thuyết nghiên cứu.
Kết quả hồi quy dữ liệu bảng cho thấy ROA, quy mô, cơ hội tăng trưởng tác động thuận chiều đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các ngân hàng niêm yết ở Ghana. Có mối quan hệ thuận chiều với tài sản hữu hình/ tài sản, lá chắn thuế và tỷ lệ cổ tức với tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Assfaw (2020) các nhân tố tác động đến quyết định sử dụng tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các NHTM tư nhân ở Ethiopia giai đoạn 2010-2018. Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (FEM, REM) được sử dụng trong nghiên cứu này.