Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÔNG GIAN HỌC TẬP TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về không gian học tập ở trong khu vực trường học cũng như khu vực ngoài trường học, có nhiều định nghĩa và cách nhìn khác nhau về không gian học tập: Nghiên cứu khoa học “Phát triển không gian học tập trong giáo dục đại học” của tác giả Phil Wood, Paul Warwick and Derek Cox (2012) đã phân tích các yếu tố hình thành nên một không gian học tập hiệu quả trong các trường đại học đó là một căn phòng được trang bị đầy đủ những thiết bị hiện đại như máy tính, đường truyền Internet, tài liệu, ánh sáng, bàn ghế. Tác giả giới thiệu các mô hình không gian học tập của một số trường đại học nổi tiếng qua đó phân tích các yếu tố tác động đến môi trường học tập của người học, người học được tác giả nói đến chính là những sinh viên đến từ nhiều trường thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Ở đó tùy vào đặc điểm của sinh viên thuộc lĩnh vực nào mà họ cần có một môi trường học tập như thế nào phù hợp với nhu cầu học tập của họ.
Qua đó tác giả cho rằng không gian học tập cần được thiết kế cho phép sinh viên được trải nghiệm theo nhiều cách khác nhau để tự học, tự tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất. Christine Mary Boynton (2010), “Không gian học tập tại trường: so sánh việc dạy và học toán ở không gian ngoài lớp học với không gian trong lớp học” tác giả đã đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa không gian học tập trong và ngoài lớp học sau đó đặt ra các câu hỏi liên quan đến việc người học tiếp thu kiến thức ở không gian bên ngoài lớp học tốt hơn hay tiếp thu kiến thức trong một không gian của lớp học tốt hơn [18]. Mục đích nghiên cứu của tác giả là tìm ra một không gian hoàn hảo cho việc tiếp thu những kiến thức về toán học trong đó môn hình học không 10 Luan van gian thì người học tiếp thu kiến thức nhanh và tốt hơn khi học ở bên ngoài không gian của lớp học. Victoria Raish and Joseph Fennewald (2016), với bài báo khoa học “Vai trò của người quản lý trong không gian học tập” đã đề cập đến vai trò của những người quản lý trong không gian học tập [22].
Không gian học tập tác giả đề cập đến đó là không gian học tập tại Thư viện và người quản lý không gian này chính là những cán bộ thư viện. Những cán bộ thư viện là những người giám sát không gian học tập và đáp ứng những yêu cầu của người sử dụng không gian học tập. Thái độ và trình độ chuyên môn của những người quản lý là một trong các yếu tố tác động đến không gian mà họ quản lý. Một người quản lý thân thiện và nhiệt tình sẽ thu hút người học đến với thư viện nhiều hơn bởi vì khi sử dụng không gian học tập thì có thể người học gặp một số khăn khi sử dụng các thiết bị và công nghệ.
Người quản lý thường xuyên quan sát khi sinh viên người học gặp vấn đề thì sẵn sàng can thiệp và giúp đỡ họ. Từ đó sinh viên sẽ đến sử dụng không gian học tập tại thư viện nhiều hơn để tự học và tự nghiên cứu. Barrie James Todhunter (2014), “Đánh giá của các bên liên quan trong sự phát triển không gian học tập tại trường đại học địa phương” tác giả đề cập đến đến không gian học tập chính thức là giảng đường, là thư viện và không gian học tập không chính thức là khuôn viên trường và các không gian học khác ngoài khuôn viên trường [19]. Tác giả cho rằng, không gian học tập chính thức mới là nơi tạo điều kiện và hỗ trợ cho SV nhiều hơn những không gian học tập không chính thức vì không gian học tập chính thức được thiết kế phù hợp và trang bị những thiết bị hiện đại để hỗ trợ việc học tốt nhất.
Jonathan Hunter and Andrew Cox (2014), với “Học tập trong quán Trà! Không gian học tập không chính thức” của tác giả đã phân tích chi tiết từng yếu tố của không gian học tập đó là ánh sáng, đồ nội thất tiện nghi, màu sắc ấm áp trong một không gian học tập không chính thức những quán cà phê [17]. Tác giả cho rằng ngoài không gian học tập chính thức đó là thư viện, giảng đường thì người học có thể sử dụng các 11 Luan van không gian khác để học tập như là các quán cà phê. Một không gian học tập hiện đại có thể hỗ trợ tối đa cho hoạt động tự học của người học, giúp cho người học tiếp thu được kiến thức một cách nhanh chóng và hiệu quả. Tác giả cho rằng người học cũng rất thích không gian học tập không chính thức bởi vì ở đó là bầu không khí thân mật với âm nhạc dịu êm và cùng với món ăn và đồ uống mà họ yêu thích.
Không gian học tập không chính thức có nhiều ưu điểm tuy nhiên cũng có nhiều điểm mà người học cảm thấy không thoải mái đó tiếng ồn và không có những thiết bị hiện đại để hỗ trợ cho học tập và nghiên cứu. Barrie James Todhunter (2015), “Kiểm tra các quan điểm của các bên liên quan chính trên sự phát triển không gian học tập của trường đại học trong khu vực” chủ yếu đưa ra các luận điểm để xây dựng không gian học tập của sinh viên, theo tác giả Không gian học tập đó là một tòa nhà, một căn phòng được trang bị bàn, ghế, ánh sáng, các thiết bị điện tử như máy tính, máy chiếu, internet…tác giả chú trọng đến diện tích của không gian học tập, một không gian học tập có diện tích lớn sẽ thu hút đông đảo người học đến sử dụng từ đó sẽ gây ra tiếng ồn trong khi đó một không gian có diện tích cho khoảng 10 người trở xuống thì có thể có hiệu quả hơn cho người học, người nghiên cứu [14]. Tác giả cũng phân tích những tác động của công nghệ ảnh hưởng đến hiệu quả của không gian học tập, công nghệ tạo điều kiện cho mọi người có thể tương tác với nhau mà không cần ở gần nhau và nhờ công nghệ mà người học có thể ngồi tại không gian học tập của mình có thể tìm được bất kỳ tài liệu nào mà họ cần thông qua các thư viện số, thư viện điện tử. Tác giả cũng đưa ra một số nghiên cứu và thực hành về không gian học tập từ các nước Mỹ, Anh, Úc cho thấy rằng không gian học tập trực tuyến ảnh hưởng đến toàn bộ không gian trường học bao gồm lớp học, thư viện, không gian học tập ngoài trời và các khu vực khác.
Trong môi trường của không gian học tập trực tuyến thì giảng viên là người hướng 12 Luan van dẫn và sinh viên phải hoàn toàn chủ động trong việc học của mình qua hoạt động tự học để có thể tự chiếm lĩnh kiến thức từ nhiều nguồn thông tin khác nhau. “Vai trò của Thư viện chuyên ngành trong việc tổ chức một không gian học tập” của tác giả Judith A. Wolfe , Ted Naylor, Jeanetta Drueke đã nêu lên những thách thức đối với cán bộ thư viện trong việc xây dựng không gian học tập đáp ứng nhu cầu học tập của người học [24]. Người cán bộ thư viện là chuyên gia trong các lĩnh vực, biết thích ứng với nhanh với sự thay đổi ngày càng mạnh mẽ của thời đại công nghệ thông tin.
Người cán bộ thư viện là người có thể hỗ trợ làm danh mục tham khảo cho những nghiên cứu chuyên sâu. Bên cạnh đó, tác giả đã bàn về thiết kế không gian học tập bao gồm cơ sở dữ liệu, các sản phẩm đa phương tiện, mạng không dây, không gian lưu trữ cho công việc của sinh viên… 1. Nghiên cứu trong nước Ở nước ta có rất ít đề tài nghiên cứu về không gian học tập và tổ chức không gian học tập. Phần lớn những nghiên cứu gần đây tập trung về không gian học tập được tổ chức tại thư viện, điển hình như: Bài viết “Không gian học tập mở tại thư viện đại học – mô hình mới phục vụ học tập và sáng tạo của sinh viên” của Bùi Loan Thùy và Phạm Thị Thanh Vân (2014) đã nêu lên những nét chung về không gian học tập mở tại thư viện và so sánh sự khác biệt trong cách tổ chức hoạt động không gian học mở của thư viện đại học Việt Nam với thư viện đại học nước ngoài [13].
Bên cạnh đó bài viết giới thiệu mô hình tổ chức và hoạt động của thư viện Beanland, Đại học Rmit Việt Nam và đưa ra kết luận không gian học tập mở là môi trường kết nối và hợp tác. Không gian này tạo ra một môi trường tự học chất lượng cao vừa thể hiện được tài nguyên thông tin của thư viện vừa tạo điều kiện thuận lới nhất cho việc học tập đa dạng của sinh viên và tăng cường hợp tác giữa Thư viện với sinh viên và giảng viên. Không gian học tập mở là không gian lý tưởng rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm hỗ trợ các nỗ lực học tập và phát triển trí tuệ đối với sinh viên để họ tìm kiếm thông tin, khám phá, nghiên cứu và phát triển 13 Luan van kiến thức, kỹ năng nghiên cứu của mình đáp ứng các đòi hỏi mới của thế kỷ XXI. Đây là một mô hình học tập mới cần mở rộng tại các thư viện đại học của Việt Nam.
Bùi Văn Hồng, Nguyễn Thị Lưỡng (2011) với bài viết “Ảnh hưởng của môi trường lớp học thực hành máy điện đến kết quả học tập của sinh viên” đã đề cập đến môi trường của lớp học bao gồm môi trường vật chất và môi trường tâm lý theo đó môi trường vật chất gồm có: Diện tích, bàn ghế, ánh sáng, màu sắc, phương tiện, thiết bị, nguồn tài liệu học tập; môi trường; môi trường tâm lý là sự tương tác giữa trò – trò, thầy – trò, tương tác giữa trò và thiết bị [6]. Các tác giả đã đi đến kết luận yếu tố vật chất trong môi trường lớp học có tác dụng giúp cho SV hình thành kiến thức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Các yếu tố tâm lý có tác động tích cực đến thái độ học tập của sinh viên từ đó nâng cao chất lượng dạy học.