đặt vấn đề đổi mới toàn diện đất nƣớc, bắt đầu từ đổi mới tƣ duy. Nội dung cơ bản của công cuộc Đổi mới là chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ 16 z chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nƣớc, trong đó thừa nhận sự cùng tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Thời kỳ Đổi mới cũng là thời kỳ thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, thời kỳ mở rộng cánh cửa hội nhập với khu vực và toàn thế giới. Từ đó đến nay, 25 năm đã trôi qua, đất nƣớc ta đã đạt đƣợc nhiều thành tựu lớn lao, đời sống của đại đa số dân cƣ đƣợc cải thiện một bƣớc đáng kể.
Chúng tôi nghĩ rằng tất cả những điều đó đã có những tác động rất mạnh mẽ đến sự biến đổi của gia đình trên pham vi cả nƣớc, trong đó có các gia đình ở Tam Sơn mà chúng tôi đã và đang tiến hành nghiên cứu. Thao tác hóa khái niệm làm việc Các khái niệm cần phải đƣợc thao tác hóa trong nghiên cứu này là 2 khái niệm: cấu trúc gia đình và chức năng gia đình. Cấu trúc gia đình Từ góc nhìn xã hội học, chúng ta có thể tìm hiểu và nghiên cứu cấu trúc gia đình trên nhiều phƣơng diện khác nhau nhƣ: qui mô (tức số khẩu), số thế hệ, loại hình, giới tính, nghề nghiệp, học vấn, lứa tuổi, v.v… Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn cao học, tác giả chỉ giới hạn ở 3 phƣơng diện là: qui mô (tức số khẩu), số thế hệ, loại hình gia đình (xem sơ đồ trang tiếp theo). Theo sơ đồ, cấu trúc gia đình đóng vai trò là khái niệm cơ sở.
Mỗi khái niệm cơ sở đều có sự phân cấp bên trong của nó. Lần theo sự phân cấp từ khái quát đến cụ thể, chúng ta đã thao tác hóa khái niệm này qua các chỉ báo khái niệm ở mức đầu tiên, mức thứ 2, thứ 3…(gọi là chỉ báo trung gian) để đến các khái niệm thực nghiệm, nhƣ gia đình độc thân, gia đình 2 ngƣời…, gia đình một thế hệ, 2 thế hệ…, loại hình gia đình chỉ có vợ chồng, vợ chồng + bố mẹ hoặc thậm chí chỉ có ông cháu…Các chỉ báo thực nghiệm nhƣ vậy giúp cho việc hình thành bộ câu hỏi định lƣợng, nhằm đo lƣờng sự biến đổi cấu trúc gia 17 z đình trên nhiều phƣơng diện khác nhau nhƣ qui mô (số khẩu), số thế hệ và loại hình gia đình, v.v… Sơ đồ 1: Thao tác hóa khái niệm cấu trúc gia đình Cấu trúc gia đình Qui mô Thế hệ Loại hình Vợ Độc Hai n 1 2 n Vợ + Vợ/ Khác thế thế thế + chồng chồng thân ngƣời ngƣời chồng + + hệ hệ hệ con con Vợ Vợ Vợ Vợ Vợ/ Vợ/ Ông Ông chồng chồng chồng chồng chồng chồng bà /bà + Khác + + Khác + + Khác + + khác Bố con Con con con cháu cháu + mẹ + bố mẹ bố mẹ 1. Chức năng gia đình Cũng giống nhƣ cấu trúc của nó, gia đình vốn có nhiều chức năng: sinh đẻ, kinh tế, xã hội hóa trẻ em, chăm sóc ngƣời già, ngƣời ốm, tiêu dùng, vui chơi giải trí. Ở đây, chúng tôi chỉ dừng lại xem xét 3 chức năng: sinh đẻ, kinh tế, giáo dục và xã hội hóa trẻ em (xem sơ đồ 2).
18 z Sơ đồ 2: Thao tác hóa khái niệm chức năng gia đình Chức năng gia đình Sinh đẻ Kinh tế Xã hội hóa Số Số Quan Sản Tiêu Cho Dạy Các niệm xuất dùng con đi bảo con con kinh công thực mong về số doanh học hàng việc tế muốn con ngày khác 1 2 3 4 5 6 7 8 9 1 1 1 1 1 1 0 1 2 3 4 5 Chú thích: - Sản xuất, kinh doanh: 1: trồng trọt; 2: chăn nuôi; 3: thủ công, dịch vụ… - Tiêu dùng: 4: ăn; 5: mặc; 6: ở, đi lại… - Cho con đi học: 7: cấp I; 8: cấp II; 9: cấp III… - Dạy bảo hàng ngày: 10: về đạo đức; 11: về tri thức; 12: về kỹ năng sống… - Các việc khác: 13,14,15… Việc thao tác hóa khái niệm chức năng gia đình từ khái niệm cơ sở đến các chỉ báo khái niệm thực nghiệm nhƣ trên cũng giúp đặt câu hỏi định lƣợng đo lƣờng sự biến đổi của chức năng gia đình qua hai giai đoạn nhƣ đã nêu. Tiếp cận đề tài về mặt lý thuyết Nghiên cứu về biến đổi gia đình nói riêng cũng nhƣ biến đổi xã hội nói chung, xét từ góc độ lý thuyết, thƣờng đƣợc thực hiện bởi nhiều cách tiếp cận khác nhau. Cách tiếp cận nhƣ thế, ngay từ đầu, có thể gợi ý cho nhà nghiên cứu cần hƣớng vào tìm tòi cái gì và nhất là sau khi đã thu đƣợc những kết quả nào đó thì cần phải lý giải các kết quả ấy ra sao. Dƣới đây chỉ nêu lên một vài cách tiếp cận liên quan trực tiếp đến đề tài mà ngƣời viết luận văn đang thực hiện.
Tiếp cận từ góc nhìn lịch sử so sánh Tiếp cận lịch sử - so sánh là cách tiếp cận nghiên cứu coi việc nhìn nhận một sự vật, hiện tƣợng trong các xã hội hay các nền văn hóa diễn ra theo một quá trình, trong đó có nhiều giai đoạn lịch sử cụ thể khác nhau. Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, do chịu sự chế định của những điều kiện khách quan và chủ quan khác nhau, nên các sự vật, hiện tƣợng – với tƣ cách là đối tƣợng cần quan sát của nhà nghiên cứu – cũng tồn tại dƣới những trạng thái khác nhau. Nếu đem so sánh các trạng thái khác nhau này, chúng ta sẽ dễ dàng thấy đƣợc sự biến đổi của sự vật hiện tƣợng từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Quan điểm lịch sử - so sánh có một ý nghĩa phƣơng pháp luận rất lớn, nó không chỉ giúp cho nhà khoa học xác định rõ đối tƣợng nghiên cứu trong từng giai đoạn lịch sử - cụ thể, mà còn tránh đƣợc lỗi logic thông thƣờng là lấy cái nhìn của ngày hôm nay để phán xét những gì đã xảy ra hôm qua và ngƣợc lại.
Vận dụng cách tiếp cận lịch sử - so sánh vào việc thực hiện đề tài “Biến đổi cấu trúc – chức năng gia đình làng Việt vùng châu thổ sông Hồng trƣớc và sau Đổi mới”, chúng ta dễ dàng nhận ra sự biến đổi này cũng diễn ra trong một quá trình kinh tế - xã hội với hai giai đoạn lịch sử khác nhau: giai đoạn trƣớc Đổi mới (từ 1985 trở về trƣớc) và giai đoạn Đổi mới (từ 1986 đến nay). Vậy, xét về mặt lịch sử, hai giai đoạn này khác nhau nhƣ thế nào? 20 z Chúng ta đều biết, giai đoạn lịch sử trƣớc Đổi mới ở nƣớc ta chịu sự chế định của nhiều sự kiện kinh tế - chính trị khác nhau, trong đó có 2 sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thứ nhất, đó là phong trào hợp tác hóa ở nông thôn, kể cả trong sản xuất nông nghiệp cũng nhƣ trong các ngành nghề khác. Đặc trƣng của giai đoạn này là việc quản lý kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Ở nông thôn, tất cả lao động, ruộng đất, trâu bò và các công cụ sản xuất đều tập trung vào hợp tác xã nông nghiệp. Hợp tác xã không chỉ thực thi việc tổ chức và điều hành sản xuất, mà cũng là ngƣời có quyền quyết định mọi việc, từ việc gieo trồng, lựa chọn giống, phân bón… đến việc phân phối và tiêu thụ các sản phẩm làm ra. Trong khi đó, các hộ gia đình nông dân từ chỗ là một đơn vị kinh tế tự chủ, vừa sản xuất vừa tiêu thụ, chỉ còn lại chức năng tiêu thụ là chủ yếu. Các lao động trong gia đình trở thành ngƣời làm công và nhận công điểm, hàng ngày đi làm theo tiếng kẻng và sự điều hành của Hợp tác xã.
Thứ hai, giai đoạn xây dựng hợp tác xã cấp thấp rồi đến cấp cao theo cơ chế bao cấp cũng là giai đoạn Mỹ leo thang mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc. Với tinh thần “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”, hầu hết gái trai trong các hộ gia đình, không chỉ ở nông thôn mà cả đô thị, đều sẵn sàng lên đƣờng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần. Không ít ngƣời trong đó đã hi sinh trên nhiều miền đất đai của Tổ quốc. Khi chiến tranh kết thúc, cũng không hiếm ngƣời chuyển ngành đến làm việc ở những cơ quan khác nhau của nhà nƣớc, chứ không trở về quê hƣơng bản quán.
Có thể nói, đây là giai đoạn rất đặc thù trong sự vận hành của gia đình Việt Nam so với các giai đoạn phát triển trƣớc đó. Nhƣng sang thời kỳ Đổi mới thì tình hình đã khác. Đặc trƣng cơ bản nhất của giai đoạn này lại là việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trƣờng có sự điều tiết của Nhà nƣớc. Từ năm 1988, ở nông thôn với khoán 10 (Nghị quyết 10 của Bộ chính trị), các hộ gia đình nông dân đƣợc xác nhận trở lại là đơn vị kinh tế, tự chủ trong sản 21 z xuất và kinh doanh.
Đến 1993, với Luật đất đai mới, các hộ gia đình đã nhận đƣợc phần ruộng khoán lâu dài, mặc dù nhà nƣớc vẫn giữ quyền sở hữu, nhƣng ngƣời nông dân có quyền chuyển nhƣợng, thừa kế và thế chấp số ruộng đó, miễn là họ có đóng thuế và sử dụng đất đai phù hợp với luật định. Sự thay đổi này đã kéo theo sự phục hồi các mối quan hệ họ hàng vốn đã bị chìm lấp đi khá nhiều ở thời bao cấp. Bên cạnh việc đổi mới trong quản lý kinh tế, giai đoạn từ 1986 đến nay ở nƣớc ta cũng là giai đoạn thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nƣớc, giai đoạn mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới, v.v… mà ở thời bao cấp chƣa có đƣợc. Hai giai đoạn lịch sử trƣớc và sau Đổi mới (1986) là hai giai đoạn rất khác nhau không chỉ ở phƣơng diện kinh tế, mà còn cả ở phƣơng diện chính trị, xã hội và văn hóa.
Sự khác biệt này cố nhiên có tác động không nhỏ đến cấu trúc và chức năng gia đình. Nói theo ngôn ngữ xã hội học là: biến số phụ thuộc cấu trúc – chức năng gia đình ở hai giai đoạn trƣớc và sau Đổi mới, do chịu sự chế định của những biến số can thiệp khác nhau, nên tất yếu nó phải có những trạng thái khác nhau.