Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đại cương về bệnh Basedow 1. Định nghĩa, danh pháp và dịch tễ Định nghĩa: bệnh Basedow là một rối loạn tự miễn, đặc trưng bởi sự xâm nhập của các tế bào T đặc hiệu với kháng nguyên tuyến giáp vào các mô có biểu hiện của thụ thể hormone kích thích tuyến giáp (TSH-R). Các tự kháng thể kích thích trong Basedow kích hoạt TSH-R dẫn đến tăng sản tuyến giáp và sản xuất và bài tiết hormone tuyến giáp không được kiểm soát [40].
Danh pháp: căn bệnh này đã được mô tả bởi Von Basedow ở Đức, Graves ở Ireland và Parry ở Vương quốc Anh, tất cả đều xảy ra vào nửa đầu thế kỷ 19 và đều được mô tả độc lập. Dấu hiệu của căn bệnh này là đánh trống ngực, bướu cổ, lồi mắt, được gọi là bộ ba Merseburg theo quê hương của Von Basedow (Merseburg, Đức) [47]. Những quốc gia sử dụng tiếng Anh thường gọi là bệnh Graves, đa số các nước thuộc châu Âu gọi là bệnh Basedow. Ở Việt Nam, bệnh thường được sử dụng dưới hai danh pháp: bệnh Basedow hoặc bướu giáp lan tỏa nhiễm độc.
Tuy tên gọi khác nhau song không có sự khác nhau về bản chất và biểu hiện của bệnh [4], [17]. Dịch tễ: bệnh Basedow là nguyên nhân phổ biến nhất gây cường giáp, là một rối loạn tuyến giáp tự miễn phổ biến, ảnh hưởng đến 20 – 30 trên 100.000 dân số mỗi năm. Để phù hợp với các bệnh tự miễn dịch khác, nó thể hiện sự ưu thế rõ ràng ở tỷ lệ mắc của nữ giới (tỉ lệ mắc nữ/nam là 6 – 7:1) với khoảng 3% phụ nữ và 0,5% nam giới phát triển bệnh trong suốt cuộc đời. Bệnh có thể gặp ở bất cứ tuổi nào kể cả trẻ lẫn già mặc dù phần lớn bệnh nhân được chẩn đoán ở độ tuổi từ 30 – 50 tuổi [62].
Ở Việt Nam, hiện vẫn chưa rõ tỉ lệ mắc bệnh trong cộng đồng. Theo Lê Huy Liệu, bệnh Basedow chiếm 2,6% số bệnh nhân mắc bệnh nội khoa điều trị 4 tại bệnh viện Bạch Mai. Theo Mai Thế Trạch, bệnh Basedow chiếm 10 – 30% các bệnh nhân có bệnh lý tuyến giáp đến khám tại bệnh viện [22]. Sinh bệnh học trong bệnh Basedow Thụ thể TSH là kháng nguyên tự động chính trong bệnh Basedow.
Kháng thể kháng thụ thể TSH và đáp ứng miễn dịch kháng nguyên đặc trưng của tuyến giáp qua trung gian tế bào cũng được xác định rõ. Tuy nhiên, sự bộc lộ kháng nguyên trên bề mặt tế bào tuyến giáp là yếu tố cần nhưng chưa đủ để khởi phát bệnh. Người ta thấy một số bệnh tuyến giáp khác hoặc thậm chí người bình thường cũng có thể có các kháng nguyên này [3]. Sự khiếm khuyết bẩm sinh trong quần thể lympho T ức chế hướng giáp là yếu tố góp phần làm khởi phát bệnh.
Sự khiếm khuyết dòng tế bào này làm mất khả năng điều chỉnh hệ thống miễn dịch và làm cho quần thể lympho T hỗ trợ hướng giáp được kích hoạt (T helper CD4) truyền thông tin đến các tế bào lympho B làm cho các tế bào này phân chia mạnh, sản xuất và tiết các tự kháng thể đặc hiệu của tuyến giáp (TSHR-Abs) [62]. Những tế bào T helper CD4 cũng truyền thông tin đến các tế bào lympho T khác để kích thích dòng lympho T ức chế hoặc gây độc tế bào (CD8) [3]. Dưới sự kích thích liên tục của các tự kháng thể có trong máu (TSHR- Abs) lên thụ thể TSH của tuyến giáp làm tuyến giáp tăng sản xuất và bài tiết hormone giáp, đồng thời bài tiết TSH từ tuyến yên bị chặn lại vì sự tăng sản xuất và bài tiết quá nhiều hormone giáp (cơ chế feed – back) [8]. Các kháng thể kháng thụ thể TSH hoạt hóa AMP vòng làm tăng giải phóng hormone giáp, thyroglobulin cũng như kích thích tăng bắt i-ốt vào tuyến giáp, kích thích tổng hợp hormone và làm tuyến giáp to ra [3].
Bệnh mắt liên quan đến tuyến giáp là hậu quả của phản ứng miễn dịch giữa kháng thể kháng thụ thể TSH với thụ thể TSH có trên các nguyên bào sợi hốc mắt với tác động thúc đẩy của tế bào lympho T. Các cytokines do các tế 5 bào này tiết ra kích thích nguyên bào sợi tiết glycosaminoglycan và hyaluronic acid gây phù nề tổ chức trong các cơ vận nhãn [55]. Phù niêm trước xương chày xảy ra do sự lắng đọng của axit hyaluronic trong lớp hạ bì và lớp dưới da. Nguyên nhân chính xác của hiện tượng này vẫn chưa chắc chắn.
Một lý thuyết hàng đầu đề xuất rằng các nguyên bào sợi được kích thích sản xuất lượng glycosaminoglycan cao bất thường dưới ảnh hưởng của các cytokine do tiếp xúc với kháng thể kháng thụ thể TSH và các tế bào T đặc hiệu với kháng nguyên [47]. Triệu chứng lâm sàng 1. Biểu hiện chung [2], [28] - Gầy sút cân nhiều và nhanh, trung bình 3 – 5 kg trong vài tháng. - Triệu chứng vận mạch: + Sợ nóng, có thể có rối loạn điều nhiệt, sốt nhẹ 37,5ºC - 38ºC, ra mồ hôi nhiều, bàn tay luôn nóng ẩm.
+ Có cảm giác háo khát, thường về đêm, uống nhiều để bù lại lượng nước mất qua da. - Triệu chứng, biến chứng tim mạch: xem phần 1. - Triệu chứng tiêu hóa: ăn nhiều, nhanh đói, đi ngoài phân nát kéo dài… - Triệu chứng thần kinh – cơ: + Run đầu chi biên độ nhanh nhỏ, run tăng khi xúc động. + Hay bồn chồn, lo âu, thay đổi tính tình, dễ cáu gắt, xúc động, mất ngủ.
+ Có thể bị teo và yếu cơ, rõ nhất ở cơ gốc chi (có dấu hiệu ghế đẩu). - Ảnh hưởng lên sinh dục: + Rối loạn kinh nguyệt ở nữ + Suy sinh dục ở nam. Bướu cổ Bướu to lan tỏa, điển hình là bướu mạch, đồng nhất không có nhân, di động khi nuốt, không đau, không có dấu hiệu chèn ép [1]. Dấu hiệu về mắt Là một trong những dấu hiệu đặc trưng của bệnh Basedow, thường xuất hiện ở cả hai mắt, đôi khi rõ rệt ở một bên hơn bên kia.
Các triệu chứng cơ năng gồm chói mắt, chảy nước mắt, cộm mắt. Khi thăm khám thấy các dấu hiệu như co cơ mi trên, xung huyết giác mạc, viêm loét giác mạc, có thể có liệt cơ vận nhãn [22]. Phù niêm trước xương chày Phù nề trước xương chày là một biểu hiện không thường xuyên của bệnh Basedow, xảy ra ở 4,3% bệnh nhân và 15,0% bệnh nhân bị bệnh mắt do Basedow [39]. Dấu hiệu này chủ yếu chỉ gặp ở giai đoạn thoái lui của bệnh.
Xét nghiệm hormone tuyến giáp 1. Định lượng hormone tuyến giáp trong huyết thanh Trong máu, 93% hormone giáp là Tetraiodothyronin (T4), và chỉ có 7% là Triiodothyronine (T3). Tuy nhiên chỉ sau vài ngày hầu hết T4 được chuyển thành T3 và T3 chính là dạng hoạt động tại tế bào [8]. Cả hai hormone đều gắn phần lớn với protein trong tuần hoàn, chỉ 0,04% T4 và 0,4% T3 ở dạng tự do (FT4, FT3) và có tác dụng hormone [24].
Protein gắn hormone tuyến giáp chính là thyroxin – binding globulin (TBG). Lượng hormon giáp T3, T4 máu thay đổi có ý nghĩa bởi sự thay đổi hàm lượng các protein gắn hormone này. Ví dụ, khi có thai, nồng độ estrogen tăng cao làm tăng sản xuất TBG ở gan. Nồng độ TBG cao làm nồng độ T4 và T3 cao.
Ở người có chức năng tuyến giáp bình thường, nồng độ hormon dạng hoạt động FT4 và FT3 có thể cần thiết để loại trừ các nhầm lẫn do sự bất thường nồng độ protein gắn hormone. Trong Basedow, T3 và FT4 đều tăng rất cao [24]. Định lượng TSH trong huyết thanh Trong bệnh Basedow, nồng độ hormone giáp tăng cao trong máu sẽ ức chế ngược trở lại làm nồng độ TSH giảm thấp. Trường hợp điển hình, bệnh 7 nhân Basedow có TSH thấp, thường dưới 0,01 µIU/ml đi kèm tăng T3, FT4 và có triệu chứng lâm sàng rõ [1].
Bên cạnh Basedow với các xét nghiệm điển hình thì Basedow với biểu hiện cường giáp cận lâm sàng cũng đang ngày càng được chú ý. Bệnh được xác định bằng nồng độ hormone kích thích tuyến giáp (TSH) trong huyết thanh thấp hoặc không thể phát hiện được, với nồng độ thyroxine tự do (FT4) và triiodothyronine toàn phần hoặc tự do bình thường. Thể bệnh này đã được chứng minh có liên quan đến tăng nguy cơ rung nhĩ và suy tim ở người lớn tuổi, tăng tỉ lệ tử vong do tim mạch và mọi nguyên nhân, giảm mật độ khoáng của xương và tăng nguy cơ gãy xương ở phụ nữ sau mãn kinh. Tuy nhiên, hiệu quả của việc điều trị trong việc ngăn ngừa những tình trạng này là không rõ ràng [35].
Định lượng TSI – TRAb Bệnh Basedow là nguyên nhân phổ biến nhất của cường giáp, trong đó các kháng thể chống lại thụ thể hormone kích thích tuyến giáp (TSH) gây ra sự kích thích liên tục tuyến giáp dẫn đến cường giáp. Kháng thể đo được được gọi là kháng thể thụ thể TSH (TRAb) và có hai phương pháp đo TRAb bao gồm xét nghiệm globulin miễn dịch kích thích tuyến giáp (TSI) và xét nghiệm globulin miễn dịch ức chế gắn kết với thụ thể TSH (TBII). Xét nghiệm TSI có độ nhạy rất cao (96%) và độ đặc hiệu (99%) để chẩn đoán bệnh [33]. Ở bệnh nhân Basedow, TSI tăng gặp 80 – 90% các trường hợp, tuy nhiên không rõ trị số cụ thể.
Theo tác giả Nguyễn Quang Bảy, TRAb > 1,5 UI/l có giá trị trong chẩn đoán Basedow [5]. Chẩn đoán xác định bệnh Basedow Lâm sàng có hội chứng cường giáp (nhịp tim nhanh, hồi hộp đánh trống ngực, run tay, ra nhiều mồ hôi, gầy sút cân nhanh nhiều, rối loạn tiêu hoá… Nếu có thêm một trong các biểu hiện đặc hiệu (lồi mắt thực sự, phù niêm trước xương chày, bướu mạch) thì cho phép chẩn đoán xác định Basedow [5]. 8 Cận lâm sàng: - TSH giảm, thường nhỏ hơn 0,1 µUI/ml, hormone tuyến giáp (T3, T4, FT3, FT4) tăng. - TRAb > 1,5 UI/l theo tác giả Nguyễn Quang Bảy [5].
Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng biến chứng tim mạch trong bệnh Basedow 1. Cơ chế tác động của hormone giáp lên hệ tim mạch [41], [43] Tác dụng tế bào của hormone giáp được điều chỉnh bởi sự gắn T3 với các receptor nhân. Tiếp theo sự gắn phức hợp T3 – receptor với DNA điều hòa sự biểu lộ các gen, đặc biệt các gen điều hòa chuyển động calcium trong tế bào cơ tim. T3 cũng có thể có tác dụng không qua nhân mà cơ chế chưa được biết rõ.
Hormone giáp tác động lên chức năng tim thông qua 3 cơ chế chính như sau.