mở đầu hoặc kết thức một quá trình luân chuyển hàng hóa hoặc quan hệ kinh tế. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu… Ngân hàng cũng đầu tư, thiết lập mạng lưới thanh toán rộng khắp các chi nhánh, phòng giao dịch, máy rút tiền tự động, thiết bị chấp nhận thanh toán… kết nối với các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Ngân hàng kết nối với các tổ chức cung cấp dịch vụ thông tin, dịch vụ công, các công ty nhằm cung cấp dịch vụ thanh toán 24/24, trên phạm vi toàn cầu với chi phí thấp và tính tiện ích cao.
Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa, góp phần tạo tính thống nhất, bảo mật trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng tính hiệu quả thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế mỗi quốc gia và toàn cầu. Tạo phương tiện thanh toán Tiền có một chức năng quan trọng là phương tiện thanh toán. Hệ thống ngân hàng tham gia tạo nên phương tiện thanh toán là tiền ghi sổ.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hóa và các dịch vụ theo yêu cầu. Tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng là phương tiện thanh toán song hành cùng tiền giấy. Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông, thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn… Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng 12 tăng lên, bằng cách đó, các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán cho khách hàng.
Toàn bộ hệ thống ngân hàng tham gia tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở mở rộng cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu (tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng tại một ngân hàng khác, từ đó tạo ra các khoản vay mới. Toàn bộ hệ thống có thể tạo ra khối lượng tiền gửi thanh toán nhiều hơn so với lượng tiền cơ sở thông qua hoạt động tín dụng. Như vậy, chức năng tạo phương tiện thanh toán của ngân hàng được phát sinh dựa trên chức năng trung gian tài chính và chức năng trung gian thanh toán.
Khi thực hiện chức năng này, hệ thống ngân hàng tham gia cung tiền, tác động tới lượng tiền cung ứng, qua đó tới lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Những nghiệp vụ ngân hàng chủ yếu Căn cứ Khoản 12 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 thì hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: - Nhận tiền gửi; - Cấp tín dụng; - Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Nhận tiền gửi Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ khách hàng với cam kết hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, ngân hàng đã trả lãi cho số tiền gửi như phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh.
Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền một cách thuận lợi thông qua hệ thống mạng lưới dày đặc, giúp khách hàng có thể gửi tiền vào ngân hàng mọi lúc, mọi nơi với chi phí thấp nhất. Nhiều tiện ích được kết nối với tài khoản tiền gửi, cho phép khách hàng có thể sử dụng tiền thuận tiện. Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ 13 tiền một cách an toàn do ngân hàng có cơ chế kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo khả năng chi trả và tham gia bảo hiểm tiền gửi. Đồng thời, ngân hàng mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho mọi tổ chức và cá nhân có nhu cầu.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh cho khách hàng. Cấp tín dụng Theo Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Trong đó, các nghiệp vụ cụ thể bao gồm: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Theo Khoản 15 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
Nghiệp vụ này đã chứng minh rõ nét chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại. Theo đó, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Sự khác biệt giữa hoạt động ngân hàng với các hoạt động thương mại khác Hiện nay, khái niệm “hoạt động thương mại” được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005. Theo đó, “hoạt động thương mại” là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Như vậy, cùng mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động ngân hàng và hoạt động thương mại khác có những điểm khác nhau rõ rệt. Thứ nhất, đối tượng hướng đến của hoạt động ngân hàng là tiền tệ và dịch vụ ngân hàng như đã đề cập đến tại nội dung ở trên. Đây là đối tượng đặc biệt (xuất phát từ bản chất và chức năng của nó đối với nền kinh tế, xã hội) nên được quản lý và giám sát theo quy định pháp luật. Ví dụ, đối với giao dịch tiền gửi có kỳ hạn, khách hàng là cá nhân phải cung cấp các thông tin như họ và tên, quốc tịch, thuộc đối tượng người cư trú hoặc người không cư trú, số và ngày cấp Giấy tờ xác minh thông tin cá nhân và thông tin của người đại diện hợp pháp trong trường hợp gửi tiền gửi có kỳ hạn thông qua người đại diện hợp pháp (Tiết i Điểm a Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 về tiền gửi có kỳ hạn).
Trong khi đó, đối với hoạt động thương mại khác như mua 15 bán hàng hóa thì khách hàng không nhất thiết phải cung cấp các thông tin cá nhân khi giao dịch với người bán. Thứ hai, chủ thể thực hiện hoạt động ngân hàng là các tổ chức tín dụng được nhà nước cho phép hoạt động. Khoản 1 Điều Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 quy định “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”.
Như vậy, chỉ những chủ thể được pháp luật quy định mới được phép thực hiện hoạt động ngân hàng. Trong khi đó, chủ thể thực hiện các hoạt động kinh doanh khác có thể là cá nhân, tổ chức. Thứ ba, phạm vi hoạt động của ngân hàng thương mại là tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong các chủ thể điều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng thì ngân hàng thương mại có phạm vi hoạt động rộng nhất và tương ứng với mỗi nghiệp vụ ngân hàng đều có hệ thống quy định pháp luật hướng dẫn và cơ chế giám sát chặt chẽ của nhà nước.
Đối với các hoạt động kinh doanh khác chủ yếu tập trung vào việc mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thông thường khác. Thứ tư, cơ cấu tổ chức của các tổ chức hoạt động ngân hàng phải tuân thủ theo các quy định của Luật tổ chức tín dụng, Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật có liên quan. Như vậy, cơ cấu tổ chức của các tổ chức hoạt động ngân hàng chặt chẽ.