Chương 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC MỐI ĐE DỌA VÀ PHƯƠNG THỨC TẤN CÔNG MẠNG LAN Trong chương đầu tiên này luận văn nghiên cứu các nguy cơ đe dọa bảo mật và phương thức tấn công mạng LAN, đề xuất các yêu cầu bảo mật đối với mạng LAN và các vấn đề bảo mật mạng LAN trong thực tế. Các yêu cầu bảo mật chung cho mạng LAN 1. Yêu cầu bảo mật về mạng Trong vận hành và khai thác mạng LAN sẽ phát sinh các nguy cơ an ninh mạng ngày càng lớn.
Không chỉ các kẻ tấn công khám phá ra nhiều lỗ hổng bảo mật mà các công cụ và các kỹ thuật cần thiết để xâm nhập vào một mạng cũng càng trở nên đơn giản hơn. Có sẵn những công cụ được tải về trên Internet cho phép những người không có nhiều kiến thức về mạng cũng có thể thực hiện các cuộc tấn công. Ngoài ra, việc thiết kế, cài đặt sử dụng các tài nguyên mạng không đúng cách cũng góp phần tại ra các lỗ hổng trên mạng cho phép những người có ý đồ xấu có thể xâm nhập vào hệ thống, thực hiện các thao tác phá hoại. Cùng với sự phát triển của thời gian, các công cụ cho phép tấn công vào mạng ngày càng trở nên phức tạp, khó lường.
Một người có thể không có nhiều kiến thức về mạng cũng có thể thực hiện một cuộc tấn công thông qua một công cụ được tải về từ mạng Internet. Bảo mật và an ninh mạng đã trở thành vấn đề ưu tiên hàng đầu trong thiết kế quản lý và vận hành mạng nhằm đảm bảo các các yêu cầu sau: - Yêu cầu về tính sẵn sàng của mạng: Mạng phải đảm bảo luôn sẵn sàng cung cấp các dịch vụ cho người dùng mọi lúc, mọi nơi. - Yêu cầu về tính bền vững của mạng: Trong môi trường đầy những nguy cơ mất an toàn mạng do người dùng giao tiếp với nhiều mạng công cộng và các hệ thống khác nhau, mạng phải chống được các cuộc tấn công mạng như DoS, DDoS, …. 5 - Yêu cầu về độ tin cậy mạng: Trong quá trình hoạt động, mạng phải đảm bảo các truy cập của người dùng là hợp pháp, tránh các rủi ro làm ảnh hưởng đến an toàn mạng.
Để đáp ứng các yêu cầu trên, thông thường chu trình bảo mật mạng gồm bốn giai đoạn: Bảo mật an ninh mạng (Secure); giám sát (Monitor); kiểm tra các lỗ hổng trên mạng (Test); cải tiến (Improve). Xuyên suốt bốn giai đoạn này là quá trình áp dụng các chính sách an ninh (Security Policy). Chính sách an ninh được xem là các luật lệ chính thức được áp dụng trong mạng qua đó bất kỳ ai khi truy nhập vào mạng đó cũng phải tuân theo. Hay nói cách khác, chính sách bảo mật là một văn bản tổng kết các cách thức mà một tổ chức, một doanh nghiệp, một cá nhân sẽ sử dụng nhằm bảo vệ tài nguyên mạng của mình.
Bốn giai đoạn của chu trình bảo mật mạng được mô tả như sau: Giai đoạn bảo vệ an ninh mạng: Là một phần trong các hoạt động quản trị mạng của doanh nghiệp. Giai đoạn này là quá trình thiết lập các giải pháp an ninh mạng nhằm ngăn chặn, phòng ngừa các hành động tấn công, các truy nhập trái phép. Có thể đó chỉ là một hoạt động đơn giản như cấu hình bộ định tuyến (router) không chấp nhận các dịch vụ, các truy nhập từ các địa chỉ không được chứng thực hay phức tạp hơn là cấu hình các bức tường lửa (Firewall), các hệ thống chứng thực (authentication), mã hóa (encryption)… Các thao tác cài đặt, cấu hình này sẽ tuân theo các chính sách an ninh mà doanh nghiệp lập ra. Các phương pháp sau thường được sử dụng nhằm thiết lập bảo vệ an ninh mạng: - Chứng thực: Là quá trình công nhận các cá nhân được quyền sử dụng từng loại hình dịch vụ của mạng qua các dấu hiệu nhận dạng của cá nhân.
- Mã hóa: Là phương pháp nhằm đảm bảo truyền dữ liệu an toàn, tin cậy, toàn vẹn, chính xác qua mạng. Dữ liệu trước khi gửi đi được mã hóa theo một thuật toán nào đó và chỉ có bên nhận mới có thể giải mã được. 6 - Xây dựng tường lửa: Tường lửa là một tập hợp các chương trình liên kết với nhau, được đặt tại các cửa ngõ vào/ra của mạng với chức năng bảo vệ các tài nguyên của mạng trước các truy nhập từ bên ngoài. - Thực hiện “vá lỗi” (vulnerability patching): là quá trình thực hiện xác minh và khắc phục các lỗ hổng của mạng thông qua việc bổ sung các “bản vá”, là các phần mềm có tính năng che lấp lỗ hổng của mạng.
Giai đoạn giám sát mạng: Sau khi đã thiết lập nên một hệ thống bảo vệ an ninh mạng, điều cần thiết phải giám sát, theo dõi hoạt động của hệ thống bảo vệ an ninh mạng trước các truy nhập từ bên ngoài vào mạng, nhằm bảo đảm mạng vẫn còn được bảo vệ an toàn. Đây là quá trình phát hiện các vi phạm đối với chính sách bảo mật, phát hiện xâm nhập và kiểm soát hệ thống, xác nhận các thao tác thực hiện bảo vệ an ninh mạng trong giai đoạn 1. Giai đoạn kiểm tra an ninh mạng: Sự phát triển của công nghệ kéo theo những thay đổi không ngừng về cách thức tấn công xâm nhập mạng. Giai đoạn này tìm kiếm những bất hợp lý trong việc xây dựng chính sách và hệ thống bảo vệ mạng trước đó, tìm ra các điểm yếu mới của mạng mà các giai đoạn trước không nhận ra thông qua các hành động tấn công thử vào các điểm bảo mật của mạng.
Giai đoạn cải tiến: Các giai đoạn giám sát và kiểm tra cung cấp các thông tin cần thiết để tiến hành nâng cấp, cải tiến mức độ bảo vệ an ninh mạng. Các nhà quản trị mạng sử dụng các thông tin này cải tiến các giải pháp bảo vệ, điều chỉnh các chính sách an ninh, bổ sung các điểm yếu trên mạng nhằm đối phó với các nguy cơ mới. Sau khi đã đưa ra những cải tiến, chu trình lại tiếp tục với giai đoạn bảo vệ an ninh mạng với sự bổ sung mới. Chu trình được tiến hành liên tục nhằm đảm bảo rằng mạng được bảo vệ một cách an toàn nhất.
Yêu cầu về bảo mật dữ liệu Trong mạng LAN, người dùng thường xuyên truy cập các cơ sở dữ liệu để làm việc nên dễ xảy ra các nguy cơ mất an toàn dữ liệu. Vì vậy, vấn đề bảo mật dữ 7 liệu phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Yêu cầu về tính sẵn sàng của dữ liệu: Các dữ liệu dùng chung phải luôn trong trạng thái đáp ứng mọi yêu cầu của người dùng mọi lúc, mọi nơi. - Yêu cầu về tính toàn vẹn dữ liệu: Các dữ liệu không bị chỉnh sửa, thay đổi một cách bất hợp pháp. - Yêu cầu về bí mật dữ liệu: Các dữ liệu là tài sản quan trọng của đơn vị và cá nhân phải được đảm bảo bí mật, không bị phát tán bất hợp pháp.
Yêu cầu về bảo mật người dùng Người dùng hợp pháp của mạng LAN là người sử dụng các dịch vụ nhưng đồng thời cũng là một tác nhân gây ra các rủi ro mạng. Vì vậy, vấn đề bảo mật người dùng phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Yêu cầu về tính hợp pháp: Người dùng hợp pháp phải được đảm bảo truy cập mạng một cách thuận lợi, đáp ứng mọi yêu cầu hợp pháp của người dùng mọi lúc, mọi nơi. - Yêu cầu về tính riêng tư: Các thông tin cá nhân, lịch sử truy cập mạng là các thông tin riêng tư của người dùng phải được đảm bảo bí mật, không bị đánh cắp hoặc phát tán bất hợp pháp. Các yêu cầu bảo mật mạng LAN, về mạng, về dữ liệu và người dùng đều có tầm quan trọng và phải được xem xét thấu đáo trong quá trình xây dựng, thiết kế, vận hành và khai thác mạng nội bộ.
Tình hình triển khai mạng LAN tại Việt Nam và các vấn đề liên quan đến bảo mật mạng LAN trong thực tế. Tình hình triển khai mạng LAN tại Việt Nam Ngày nay ở Việt Nam, các tổ chức, doanh nghiệp đều sử dụng, triển khai mạng LAN bên trong hệ thống của họ. Hệ thống mạng nội bộ giúp gia tăng khả năng trao đổi dữ liệu giữa các nhân viên, các ban ngành với nhau, làm gia tăng khả năng làm việc và hoạt động một cách hiệu quả. Tuy nhiên, với nhu cầu trao đổi thông tin, bắt buộc các cơ quan, tổ chức phải kết nối tới mạng Internet.
Khi thực hiện kết nối mạng nội bộ của cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức với mạng toàn cầu, an 8 toàn và bảo mật thông tin là một vấn đề cấp bách được đặt ra. Internet có những kỹ thuật cho phép mọi người truy cập, khai thác và chia sẻ thông tin với nhau. Nhưng nó cũng là nguy cơ chính dẫn đến thông tin dễ bị hư hỏng hay bị phá hủy hoàn toàn. Sở dĩ có lí do đó là vì việc truyền thông tin qua mạng Internet hiện nay chủ yếu sử dụng giao thức TCP/IP.
TCP/IP cho phép các thông tin từ máy tính này tới máy tính khác phải đi qua một loạt các máy tính trung gian hoặc các mạng riêng biệt trước khi nó tới được đích. Chính vì vậy, giao thức TCP/IP đã tạo cơ hội cho bên thứ ba có thể thực hiện các hành động gây mất an toàn thông tin trong khi thực hiện việc truyền thông tin trên mạng. Thực tế, số vụ tấn công từ bên ngoài vào các cơ quan, tổ chức, trường học,. đang ngày một tăng lên với quy mô khổng lồ.
Nếu chúng ta không có các giải pháp phòng chống và khắc phục, hậu quả và tổn thất sẽ vô cùng nặng nề. Vấn đề liên quan đến bảo mật mạng LAN trong thực tế Việt Nam lọt vào top 20 quốc gia có số lượng website bị tấn công lớn nhất thế giới trong quý 3 năm 2018, theo Báo cáo an ninh website quý 3 năm 2018 bởi CyStack. Ở vị trí thứ 19, Việt Nam có 1.183 website bị tấn công, trong đó website doanh nghiệp là đối tượng của đại đa số các tin tặc. Cụ thể, 71,51% số cuộc tấn công nhằm vào các website doanh nghiệp, theo sau bởi website thương mại điện tử với 13,86%.
Theo báo cáo an ninh mạng của Bkav, thiệt hại do virus máy tính gây ra đối với người dùng Việt Nam đã lên mức kỷ lục 14.900 tỷ đồng, tương đương 642 triệu USD, nhiều hơn 21% so với mức thiệt hại của năm 2017. Đây là kết quả được đưa ra từ chương trình đánh giá an ninh mạng do Tập đoàn công nghệ Bkav thực hiện tháng 12/2018.