Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CÁO TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ 1. Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hình sự 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩabảo đảm quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hình sự 1. Khái niệm bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hình sự - Khái niệm quyền bào chữa, quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hình sự Trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, vấn đề bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền bào chữa là một trong những nội dung quan trọng, được đặt lên hàng đầu.
Bởi vì mục tiêu của cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền là phải hướng tới việc bảo vệ một cách hữu hiệu các quyền và tự do của con người và của công dân. Việc bảo đảm quyền bào chữa góp phần quan trọng trong bảo đảm quyền con người. Theo từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa thì “Bào chữa là dùng lời lẽ, chứng cớ để bênh vực một việc”. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”[20, tr 3].
Theo quy định này thì BLTTHS Việt Nam ghi nhận quyền bào chữa đối với người bị buộc tội. Đây là lần đầu tiên, BLTTHS sử 9 Luan van dụng thuật ngữ “người bị buộc tội”. Thuật ngữ này thường chỉ được sử dụng trong các văn bản nghiên cứu khoa học pháp lý trước đây. Trong đó, tại Điểm đ, Khoản 1, Điều 4 BLTTHS năm 2015 thì “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
Theo đó, quyền bào chữa được xác định là quyền không chỉ dành cho bị can, bị cáo mà còn có người bị bắt, người bị tạm giữ - những người chưa có quyết định khởi tố bị can hay quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy vậy, họ vẫn được quy định quyền bào chữa vì lúc này họ cũng đã bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế của pháp luật, quyền lợi của họ cũng đã bị hạn chế, ảnh hưởng nhất định nên cần phải được pháp luật cho phép thực hiện những hoạt động nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi trước các cơ quan có thẩm quyền. Nội dung quyền bào chữa bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa. Quy định như trên đã ghi nhận quyền bào chữa của đầy đủ các đối tượng có khả năng bị hạn chế quyền, lợi ích; đối mặt với sự nghi ngờ, khả năng bị buộc tội bởi các cơ quan pháp luật Nhà nước.
Như vậy có thể đưa ra khái niệm quyền bào chữa như sau: “Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hợp các hành vi tố tụng của người bị buộc tội được pháp luật quy định cho họ nhằm đưa ra các chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước các cơ quan tiến hành tố tụng trong các quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự”. Ngoài ra, theo quy định của BLTTHS năm 2015, người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong đó, “bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” (Khoản 1, Điều 61 BLTTHS năm 2015). Đối với người này, Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm sau khi đã thụ lý và nghiên cứu hồ sơ vụ án từ Viện kiểm sát.
Khi tham gia tố tụng với tư cách bị cáo, người đó sẽ có được những quyền nhất định để có thể góp phần làm rõ vụ án, đồng thời có thể tự bảo vệ 10 Luan van mình trước các cơ quan THTT. Một trong những quyền đó là: quyền bào chữa, được bị cáo thực hiện thông qua hai hình thức, đó là tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Quyền này của bị cáo được thực hiện kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến khi bản án, quyết định của Tòa án về hành vi phạm tội của bị cáo có hiệu lực pháp luật. Trong quá trình đó, việc thực hiện quyền bào chữa tại phiên tòa xét xử sơ thẩm là hoạt động có ý nghĩa then chốt trong việc bảo vệ quyền lợi của bị cáo cũng như góp phần quan trọng trong việc quyết định bị cáo có tội hay không có tội.
Bởi lẽ, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án sẽ tiến hành xem xét toàn bộ những tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõ bản chất của vụ án, xác định bị cáo có phải là người phạm tội hay không. Khi đó, việc bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ mà còn có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình thực hiện quyền bào chữa trong quá trình TTHS, góp phần xác định bị cáo có tội hay không có tội hoặc mức độ trách nhiệm hình sự mà họ phải chịu theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy, việc thực hiện quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có thể xem như là hoạt động quan trọng nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội trong quá trình TTHS. Việc thực hiện quyền bào chữa của bị cáo trong trường hợp này được tiến hành thông qua các hành vi nhất định tại phiên tòa sơ thẩm.
Bị cáo hoặc người được nhờ bào chữa sẽ tiến hành những hoạt động theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của bị cáo trước sự buộc tội của VKS. Theo đó, họ sẽ chứng minh bị cáo không phạm tội hoặc giảm nhẹ TNHS của bị cáo so với cáo trạng của VKS. Đồng thời, bị cáo hoặc người bào chữa có thể đưa ra những chứng cứ, tài liệu, đồ vật góp phần làm sáng tỏ bản chất của vụ án. 11 Luan van Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm như sau: Quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hình sự là tổng hợp các hành vi tố tụng của bị cáo được pháp luật quy định cho họ nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ đồng thời góp phần làm rõ bản chất vụ án hình sự trong quá trình xét xử tại phiên tòa sơ thẩm.
- Khái niệm bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hình sự Trước tiên, cần tìm hiểu khái niệm về bảo đảm trong Tiếng Việt.TS Hoàng Phê trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của NXB Tiếng Việt thì: Bảo đảm là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết, sự bảo đảm thực hiện hoặc giữ được. Từ điển Luật học diễn giải: Nhà nước có trách nhiệm: “bảo đảm cho các quyền công dân đã được ghi nhận trong các đạo luật phải được thực thi, phải tạo điều kiện cho công dân được hưởng các quyền đó”. Như vậy: Bảo đảm có thể hiểu một cách đơn giản nhất đó là: Trách nhiệm của một chủ thể có thẩm quyền phải làm cho quyền và lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết để có thể thực hiện được. Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng mà ở đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét các chứng cứ tại tòa, ra bản án và các quyết định theo quy định của pháp luật.
Đây chính là cấp xét xử đầu tiên mà tất cả chứng cứ thu thập được trong giai đoạn điều tra cùng với các chứng cứ mới được xem xét một cách trực tiếp, khách quan và toàn diện. Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm bị cáo thực hiện quyền của mình tại phiên tòa như tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa, trình bày quan điểm gỡ tội cho mình… Toàn bộ quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đều phải tuân thủ các nguyên tắc được quy định trong tố tụng hình sự. 12 Luan van Với tư cách là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự, nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa trong tố tụng hình sự chi phối, tác động đến toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng. Bảo đảm pháp lý quyền con người nói chung và bảo đảm quyền bào chữa của bị can tại phiên tòa hình sự sơ thẩm nói riêng có nghĩa là từ những quy định đã có của pháp luật về việc bảo vệ và bảo hộ quyền con người, Nhà nước làm cho những quy định pháp luật đó trở thành hiện thực, bảo đảm quyền, lợi ích thực tế của con người được hưởng quyền, mà cụ thể ở đây là bị cáo.
Điều 16 Bộ luật TTHS quy định: Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này. Tức là: Tại phiên tòa, dù là bị cáo hay bị hại cũng như những người có liên quan có tư cách khác nhau đều được những người tiến hành tố tụng là HĐXX, KSV bảo vệ, giúp cho họ có thể thực hiện được quyền bào chữa của mình như có thể tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa… Tuy nhiên, để bảo đảm cho quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa hình sự sơ thẩm thì phải có nghĩa vụ tương ứng của các chủ thể mà cụ thể là Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên để tạo điều kiện cho bị cáo sử dụng quyền bào chữa của mình. Những người này có nghĩa vụ thực hiện hoặc không thực hiện cho bị cáo sử dụng quyền bào chữa của mình, hoặc tạo ra các điều kiện tốt nhất hay cản trở quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.