LỜI MỞ ĐẦU Thể dục thể thao là một hoạt động không thể thiếu được của mỗi dân tộc, cũng như nền văn minh của nhân loại. Ngay từ khi mới ra đời thể dục thể thao là một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa xã hội, là phương tiện giáo dục. Thể dục thể thao còn mang đầy đủ tính lịch sử, tính kế thừa, tính dân tộc. Vì vậy mà thông qua thể dục thể thao ta có thể đánh giá được sự phát triển của quốc gia dân tộc…Mặt khác thể dục thể thao còn tạo mối quan hệ giao lưu thắt chặc tinh thần đoàn kết hữu nghị các quốc gia, dân tộc trên thế giới không phân biệt trình độ phát triển cao hay thấp, chế độ chính trị xã hội.
Trong quá trình hội nhập và phát triển về mọi mặt thì sự định hướng và đầu tư cho sự nghiệp thể dục thể thao (TDTT) là hết sức cấp thiết, đòi hỏi phải có sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng và nhà nước đối với ngành thể thao (TT) nước nhà. Không chỉ riêng Việt Nam mà phần đông các nước trên thế giới xem võ thuật là một trong những môn TT hấp dẫn và cũng có rất đông người tham gia tập luyện thi đấu. Đối với Việt Nam thì võ thuật còn được xem là môn mũi nhọn đi tiên phong và giành nhiều huy chương cho TT Việt Nam trên đấu trường quốc tế như các môn Karatedo, Taekwondo, Judo, Vovinam,… Thể thao Việt Nam nói chung và Karatedo nói riêng trong những năm gần đây đã đạt được những thành tích đáng kể. Có thể điểm qua một số thành tích mà môn Karatedo đã đạt được trong những năm gần đây là: Tại Seagames 22 (2003) đoạt 12 HCV và vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á, gần đây nhất là 03 HCV – 03 HCB - 07 HCĐ tại Seagames 27 (Myanmar).
Đặc biệt phải kể đến là huy chương vàng của Vũ Kim Anh và Nguyễn Trọng Bảo Ngọc tại Asiad 14 (2002), Vũ Nguyệt Ánh tại Asiad 15 (2006), Lê Bích Phương tại Asiad 16 (Trung Quốc) …. Những thành tích vẻ vang đó đã khẳng định vị trí của Karatedo trên đấu trường khu vực Đông Nam Á, Châu Á. Qua 2 đó, môn Karatedo đã được ngành TDTT xác định là một trong những môn thể thao mũi nhọn của Việt Nam trên bước đường hội nhập đấu trường thể thao quốc tế. Vì thế, việc tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng VĐV trẻ kế thừa cho lực lượng đội tuyển đang là mục tiêu hành đầu của bộ môn.
Đồng Tháp là một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu long, có phong trào Karatedo phát triển mạnh trong khu vực nhưng còn non so với các đơn vị mạnh trên toàn quốc, song đã giành nhiều huy chương tại các giải Trẻ quốc gia và giải Vô địch toàn quốc. Trong những năm gần đây với các VĐV như: Yến Vy, Bích Loan, Cẩm Lành, Khánh Vy, Bé Ngoan,.đã được nhiều thành tích cao cho tỉnh nhà. Tuy nhiên, công tác đào tạo và huấn luyện VĐV Karatedo của tỉnh trong những năm qua chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm và đánh giá theo cảm tính của HLV mà chưa có một công trình nghiên cứu nào để hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể nào để đánh giá và so sánh. Có thể nói, thể lực chuyên môn có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tập luyện, kỹ thuật động tác và đến cả kết quả thi đấu.
Không có thể lực tốt thì không thể chống lại mệt mỏi cũng không phát huy hết kỹ thuật sẵn có để mang lại kết quả như mong muốn. Bản thân từng là VĐV Karatedo, hiện đang là thành viên của ban huấn luyện đội Karatedo tỉnh Đồng Tháp, nên tôi nhận thấy việc nâng cao hiệu quả của sự phát triển về thể lực cho đội tuyển Trẻ Karatedo Đồng Tháp là vô cùng quan trọng. Xuất phát từ vấn đề thực tế trên và nhằm mục đích phát triển thể lực cho VĐV Karatedo Trẻ của tỉnh Đồng Tháp nên chúng tôi mạnh dạn thực hiện nghiên cứu đề tài: ―Nghiên cứu xây dựng một số bài tập phát triển thể lực cho nữ vận động viên Karatedo trẻ lứa tuổi 16 - 18 tỉnh Đồng Tháp. 3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Triển khai xây dựng một số bài tập thể lực và đánh giá hiệu quả của chúng đối với VĐV nữ đội Karatedo trẻ lứa tuổi 16 - 18 tỉnh Đồng Tháp.
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: Để đạt được mục đích trên của đề tài, cần giải quyết ba nhiệm vụ sau: Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng thể lực cho nữ VĐV Karatedo trẻ lứa tuổi 16 – 18. Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu xây dựng và ứng dụng các bài tập phát triển thể lực cho nữ VĐV Karatedo trẻ lứa tuổi 16 - 18 tỉnh Đồng Tháp. Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiệu quả ứng dụng các bài tập phát triển thể lực cho nữ VĐV Karatedo trẻ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Đồng Tháp. 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Một số quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về thể dục thể thao: Trong xu thế hội nhập toàn cầu, tăng cường thể chất và bảo vệ sức khỏe là nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng đối với Đảng và nhà nước ta trong việc phát triển công tác thể dục thể thao trong thời kỳ đổi mới. Điều này thể hiện qua các văn bản của Đảng và nhà nước: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X nêu rõ: ―Đẩy mạnh các loại hoạt động thể dục thể thao cả về quy mô lẩn chất lượng. Khuyến khích và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia hoạt động và phát triển sự nghiệp thể dục thể thao…‖ Tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 10 của Quốc hội khóa XI số 77/2006/QH11 ngày 29/11 năm 2006 đã thông qua luật TDTT và tại điều 44 có nói rõ về thể thao chuyên nghiệp và định hướng phát triển thể thao chuyên nghiệp như sau: ―Thể thao chuyên nghiệp là hoạt động thể thao, trong đó huấn luyện viên, vận động viên lấy huấn luyện, biểu diễn, thi đấu thể thao là nghề của mình…‖[9] Gần đây nhất văn bản mang tính bước ngoặt, thể hiện sự quan tâm và coi trọng công tác thể dục thể thao của Đảng, Bộ chính trị đã ra Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 01/12/2011 về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước chuyển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020. Với quan điểm chỉ đạo ―đầu tư cho thể dục, thể thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước‖.
Về thể thao thành tích cao, nhấn mạnh: Dành nguồn lực thích đáng để hình thành hệ thống đào tạo tài năng thể thao với đội ngũ kế cận dồi dào và có chất lượng, làm tiền đề cho bước phát triển đột phá về thành tích trong một số môn thể thao. Đổi mới tổ chức, quản lý thể thao thành tích cao theo hướng chuyên nghiệp phù hợp với đặc điểm của từng môn và từng địa 5 phương. Ưu tiên đầu tư của Nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo vận động viên các môn thể thao trọng điểm; tích cực chuẩn bị lực lượng vận động viên và các điều kiện cơ sở vật, chất kỹ thuật cần thiết, để sẵn sàng đăng cai tổ chức Đại hội thể thao Châu Á. Sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
[53] Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt ―Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020‖. Trong đó về thể thao thành tích cao : chỉ tiêu đề ra là: giữ vững vị trí trong top 3 của thể thao khu vực Đông Nam Á (SEA Games); Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 45 vận động viên vượt qua các cuộc thi vòng loại, có huy chương tại Đại hội Thể thao Olympic lần thứ 32; Các môn thể thao trọng điểm bao gồm: 10 môn thể thao trọng điểm loại I (Điền kinh, Bơi, Cử tạ, Taekwondo, Vật (hạng cân nhẹ), Bắn súng, Karatedo, Boxing (nữ), Cầu lông, Bóng bàn. [54] Chỉ thị số 48/CT-BVHTTDL ngày 05 tháng 4 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc thực hiện ―Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020‖. Trong đó nhấn mạnh: Đổi mới cơ chế tổ chức, nội dung tuyển chọn và đào tạo tài năng thể thao thành tích cao theo định hướng chuyên nghiệp; tăng cường nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao cho công tác đào tạo tài năng thể thao thành tích cao; ưu tiên đầu tư cho các môn thể thao, vận động viên thể thao trọng điểm; Ưu tiên ứng dụng nghiên cứu khoa học, y học thể thao; tăng cường năng lực chữa trị chấn thương và phòng, chống Doping; thực hiện giám định khoa học đối với quá trình huấn luyện một số vận động viên trọng điểm.
[55] Do vậy, việc phát hiện, tuyển chọn và đào tạo và bồi dưỡng tài năng thể thao trẻ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển thể thao thành tích cao. Các quan điểm về huấn luyện tố chất thể lực trong huấn luyên thể thao: Huấn luyện thể thao là quá trình chuẩn bị thể lực cho VĐV giành được thành tích thể thao cao nhất trong thi đấu do đó là nhiệm vụ chính của huấn luyện thể thao trước hết phải bắt nguồn từ các yêu cầu cụ thể trong thi đấu thể thao, ngoài ra còn xuất phát từ bản thân các yêu cầu của lượng vận động trong huấn luyện. Các nhiệm vụ chính của huấn luyện thể thao bắt nguồn từ cấu trúc thành tích. Các yếu tố xác định thành tích cá nhân được sắp xếp thành 5 nhóm như sau:[2,3,4] - Các phẩm chất cá nhân của VĐV.
- Các tố chất thể lực. - Khả năng kỹ thuật, phối hợp vận động và kỹ xảo. - Khả năng chiến thuật và trí tuệ. - Sự hiểu biết của VĐV trong lĩnh vực khoa học TDTT.
Và để đạt được thành tích cao người ta phải sử dụng các phương tiện khác nhau: - Các bài tập thể chất. - Các điều kiện tự nhiên (môi trường, không khí, nước, ánh sáng…). - Các yếu tố vệ sinh. - Trong đó, bài tập thể chất là nhóm phương tiện chính để huấn luyện thể thao, là phương tiện quan trọng nhất để nâng cao thành tích thể thao.
Các bài tập thể chất phải phù hợp nhiệm vụ quá trình huấn luyện và không được sử dụng cách bừa bãi, không chọn lựa. Tính mục đích của một bài tập huấn luyện thể thao thành tích cao thể hiện đúng chỗ chúng được sử dụng để phát triển thành tích trong môn chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu thành tích cấu trúc thành tích lâu dài, nâng cao khả năng chịu đựng lượng vận động một cách liên tục và phát triển thành tích thể thao một cách nhanh chóng.