Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÒNG NGỪA TAI NẠN THƯƠNG TÍCH ĐỐI VỚI TRẺ EM 1. Các khái niệm công cụ: 1. Cộng đồng an toàn Cộng đồng Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cộng đồng. Theo Redo – Trường Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng Philippins định nghĩa: “Cộng đồng là một đơn vị hành chính, lãnh thổ trong đó mọi người có sự liên kết chặt chẽ với nhau, chia sẻ các nền tảng chung như văn hóa, tôn giáo, chủng tộc… Họ chia sẻ mối quan tâm chung về những vấn đề cụ thể về những vấn đề cụ thể như nghèo đói, tệ nạn xã hội, trẻ em lao động sớm, tai nạn thương tích trẻ em, thất học, bệnh tật, họ có nghĩa vụ và trách nhiệm chung”.
Theo tác giả Trịnh Văn Tùng thì “Cộng đồng là một nhóm người có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, có nhiều thuộc tính giống nhau tạo thành bản sắc. Cộng đồng ấy không nhất thiết cùng sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ. Họ cùng nhau chia sẻ những mối quan tâm về những vấn đề cụ thể (thiếu hụt chức năng xã hội, bị kì thị, bị loại trừ xã hội, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực đồng thời có nghĩa vụ và trách nhiệm chung”[5]. Như vậy, loại định nghĩa thứ nhất thể hiện rõ tính địa vực, trong khi loại định nghĩa thứ hai không thể hiện tính địa vực.
Cả hai loại định nghĩa này đều thể hiện rằng, trong một cộng đồng thì có cộng đồng thể và cộng đồng tính. Cộng đồng thể tức là quy mô, cơ cấu hay hình hài vật lý của cộng đồng đó trong khi cộng đồng tính nhấn mạnh tính cố kết của cộng đồng theo hướng nào đó. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng loại định nghĩa thứ nhất bởi lẽ nó phù hợp với địa bàn nghiên cứu, cụ thể như sau: Thị xã Quảng Yên là một đơn vị hành chính lãnh thổ. Những người dân nơi đây có sự liên kết chặt chẽ với nhau vì đều chia sẻ những nét văn hóa tương đồng của một vùng cửa sông ven biển.
Tại đây, họ chia sẻ nhiều mối quan tâm 21 chung trong đó nổi bật là tai nạn thương tích trẻ em. Vì vậy họ có nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em, làm thế nào để tạo ra môi trường an toàn cho trẻ, tạo điều kiện để trẻ phát triến triển một cách toàn diện. An toàn Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, an toàn được hiểu là: “Sự không có những rủi ro gây thiệt hại không thể chấp nhận được ; hay nói cách khác là tnh trạng trong đó sự rủi ro gây nguy hại (nhất là đối với con người) hoặc thiệt hại giới hạn ở mức có thể chấp nhận được. Trong tiêu chuẩn hoá, tính an toàn của sản phẩm, quá trình và dịch vụ thường được xem xét theo quan điểm đạt được sự cân bằng tối ưu của hàng loạt nhân tố kể cả các nhân tố phi kĩ thuật như sự ứng xử của con người làm giảm bớt tới mức chấp nhận được những rủi ro gây thiệt hại cho con người và sản phẩm hàng hoá.
Tính an toàn là một trong những khía cạnh của chất lượng”.[6] Trong luận văn này, chúng tôi cho rằng yếu tố an toàn là hết sức quan trọng, làm thế nào để trẻ em được an toàn không bị tai nạn thương tích? Làm sao để giảm thiểu tai nạn thương tích trẻ em tới mức thấp nhất? cần có sự nỗ lực của cả cộng đồng, sự tham gia tích cực của các tiểu hệ thống trong cộng đồng đó và phải liên kết nó lại, thì vấn đề an toàn cho trẻ mới được giảm thiểu mọt cách đáng kể. Vì vậy chúng tôi cho rằng, an toàn là không có những rủi ro gây thiệt hại (nhất là đối với con người) hoặc thiệt hại ở mức thấp nhất. Cộng đồng an toàn Từ khái niệm về cộng đồng và khái niệm an toàn, chúng tôi xin đưa ra khái niệm cộng đồng an toàn như sau: Cộng đồng an toàn là một nhóm xã hội những người cùng chung sống trong cùng một môi trường, mà tại đó không có những rủi ro gây thiệt hại (nhất là đối với con người) hoặc thiệt hại ở mức thấp nhất. Phòng ngừa tai nạn thương tích Phòng ngừa Phòng ngừa là việc cung cấp các dịch vụ kịp thời cho những cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế trong xã hội, thúc đẩy các chức năng xã hội của họ 22 trước khi các vấn đề phát sinh (gồm các hoạt động và chương trình như kế hoạch hóa gia đình, tư vấn trước khi sinh con, giáo dục cách làm cha mẹ, tư vấn trước kết hôn, trước khi nghỉ hưu, các chương trình gắn kết tình cảm gia đình [7].
Theo tác giả Mai Thị Kim Thanh thì “Phòng ngừa là sự hướng dẫn giúp đỡ mọi cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương có những chuẩn bị trước nhằm đề phòng những hậu quả, rủi ro và bất hạnh có thể xảy ra cho chính họ, gia đình họ và cộng đồng của họ” [8]. Những hình thức phòng ngừa rất đa dạng. Nhân viên xã hội có thể vận dụng những cơ cấu về mặt pháp chế xã hội, cơ sở pháp lý, tâm lý, sư phạm, y tế và các cơ sở khác để phòng ngừa như: Trong y tế là hoạt động tiêm phòng, khám sức khỏe định kỳ, trong nhà trường là các hoạt động tập huấn trang bị kiến thức về sức khỏe, về pháp luật, về các kỹ năng trong giao tiếp ứng xử… Theo quan điểm của chúng tôi, Phòng ngừa là ngăn ngừa trước những cái xấu, cái không hay có thể xảy ra đối với bản thân chúng ta và những người xung quanh. Như vậy, trong khuôn khổ luận văn của mình chúng tôi sử dụng khái niệm “Phòng ngừa” của tác giả Mai Thị Kim Thanh vì nó phù hợp với tình hình thực tế tại thị xã Quảng Yên đó là việc chuẩn bị tâm thế để phòng ngừa rủi ro trước khi nó xảy ra đối với trẻ em trên địa bàn thị xã.
Tai nạn thương tích Theo Cục Y tế dự phòng, tai nạn thương tích được định nghĩa như sau: “Tai nạn thương tích là các tổn thương thực thể trên cơ thể người gây nên bởi sự tác động bên ngoài vượt quá sức chống đỡ của cơ thể. Tai nạn thương tích có thể là một vết thương trên cơ thể do phơi nhiễm với một lực tác động quá mức, hoặc có thể một rối loạn chức năng xảy ra do một sự thiếu hụt một yếu tố thiết yếu cho cuộc sống (không khí, nước, nhiệt độ cần thiết) như là ngạt, sự tắc nghẽn đường thở hoặc bị cóng” [9]. Chúng tôi quan niệm, tai nạn thương tích là các tổn thương thực thể trên cơ thể người gây nên bởi sự tác động bên ngoài vượt quá sức chống đỡ của cơ thể. 23 Phòng ngừa tai nạn thương tích Từ khái niệm về “phòng ngừa” và khái niệm “tai nạn thương tích”, chúng tôi xin đưa ra khái niệm phòng ngừa tai nạn thương tích như sau: Phòng ngừa tai nạn thương tích là hệ thống các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế các tổn thương thực thể trên cơ thể người gây nên bởi sự tác động bên ngoài vượt quá sức chống đỡ của cơ thể.
Trẻ em Theo Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 2016 vừa được Quốc hội thông qua ngày 5/4/2016: Trẻ em là người dưới mười sáu tuổi. Theo công ước quốc tế về quyền trẻ em: Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [10]. Trong đề tài “Áp dụng phương pháp công tác xã hội trong việc xây dựng cộng đồng an toàn nhằm phòng ngừa TNTT cho trẻ em tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” chúng tôi quan niệm theo Luật trẻ em năm 2016, tức trẻ em là người dưới 16 tuổi. Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu.
Thuyết hệ thống Thuyết hệ thống được phát triển vào những năm 1930 và 1940 do nhà sinh học Ludving Von Bertanffy khởi xướng. Thuyết hệ thống bao quát mọi lĩnh vực (tin học, sinh học, kinh tế, xã hội học) một hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống. Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của một đại hệ thống. Có những hệ thống khép kín, không trao đổi với những hệ thống xung quanh.
Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó". 24 Các yếu tố của một hệ thống thường tham gia vào nhiều hệ thống khác. Điều này đòi hỏi mỗi một thành tố phải thực hiện tốt vai trò của mỗi hệ thống mà nó đóng vai. Tiếp cận hệ thống không hoàn toàn đồng nghĩa với phương pháp phân tích hệ thống vì ngoài phần phương pháp (còn đang được phát triển và hoàn thiện), tiếp cận hệ thống còn đề cập đến vấn đề về lý thuyết hệ thống cũng như phương hướng ứng dụng lý thuyết này trong thực tiễn.
Tiểu hệ thống: Trong một hệ thống, là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ. Có thể coi đó là những hình thức nhỏ hơn trong hệ thống lớn. Các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi các danh giới, là bộ phận của hệ thống lớn. Một cá nhân được coi là một hệ thống vi mô.
Hệ thống vi mô có 3 tiểu hệ thống: Hệ thống tâm lý, hệ thống sinh học và hệ thống hành vi. Các tiểu hệ thống của con người chịu sự tác động của cả hệ thống gia đình, hệ thống xã hội. Vai trò của tiểu hệ thống trong mối quan hệ gia đình, mối quan hệ với đồng nghiệp trong xã hội. Như vậy, mỗi cá nhân trong tiểu hệ thống của mình sẽ bộc lộ vai trò nào đó ở một môi trường nào đó mà cá nhân nào đó gặp phải.
Nguyên tắc hoạt động của một hệ thống - Nguyên tắc 1: Mọi hệ thống đều nằm trong một hệ thống khác lớn hơn. Khi áp dụng nguyên tắc 1 trong nghiên cứu của mình, chúng tôi thấy rằng thị xã Quảng Yên được nằm trong một chỉnh thể xã hội lớn hơn là tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ nghiên cứu ở một địa bàn cấp huyện cụ thể, còn những huyện khác sẽ được áp dụng tương tự.