Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc Chương 2. Cơ sở lý thuyết Chương 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5. Kết luận và kiến nghị 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 1. Các nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng đã bắt đầu thực hiện từ những năm 70 của thế kỷ trƣớc, các dòng nghiên cứu chính có thể kể ra bao gồm: 1. Nghiên cứu thực nghiệm về sự tồn tại của AEG Các nghiên cứu này bắt đầu tại Anh, Úc, Hoa kỳ, sau đó lan rộng ra các quốc gia khác nhƣ Pháp, Singapore, ….
Nghiên cứu của Lee (1970) tại Anh về AEG thông qua gửi bảng câu hỏi đến các KTV, đơn vị đƣợc kiểm toán và bên thứ ba. Kết quả nghiên cứu là trên 80% số ngƣời đƣợc khảo sát cho rằng mục tiêu của kiểm toán là (1) phát hiện các gian lận và sai sót, (2) đảm bảo các công ty đã tuân thủ tất cả các quy định của pháp luật, (3) xác minh tính chính xác của sổ sách, hồ sơ và chứng từ kế toán, (4) đƣa ra ý kiến kiểm toán về sự trung thực, hợp lý của BCTC của đơn vị đƣợc kiểm toán. Lee kết luận rằng sự hiểu biết của KTV về mục tiêu kiểm toán có sự khác biệt so với đơn vị đƣợc kiểm toán và bên thứ ba. Ông thừa nhận rằng có sự tồn tại về AEG giữa các bên và nếu các bên không cùng chung nhận thức về mục tiêu kiểm toán thì các lợi ích từ cuộc kiểm toán sẽ không đƣợc đánh giá cao và đáng tin cậy.
Cũng trong thời gian này, Beck (1973) đã tiến hành một cuộc khảo sát ở Úc tƣơng tự nhƣ Lee ở Anh. Bảng câu hỏi khảo sát đƣợc gửi tới 2 nhóm đối tƣợng là KTV và những ngƣời sử dụng BCTC (thuộc ngành khai khoáng và thƣơng mại), gồm 17 câu hỏi liên quan đến trách nhiệm kiểm toán và mục tiêu kiểm toán, 15 câu hỏi liên quan đến Luật kiểm toán và kế toán. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng kỳ vọng của ngƣời sử dụng dịch vụ kiểm toán lớn hơn nhiều so với những gì KTV tin rằng mình có thể và có khả năng thực hiện đƣợc liên quan đến các khía cạnh: (1) KTV đảm bảo rằng không còn gian lận trong công ty (93%); (2) tình hình tài chính công ty lành mạnh (81%); (3) việc quản lý của công ty là hữu hiệu (71%). Dựa trên phát hiện của mình, ông cũng đã kết luận rằng ngƣời sử dụng BCTC tại Úc yêu cầu không hợp lý về kết quả kiểm toán, đây chính là nguyên nhân tồn tại AEG tại Úc.
6 Nghiên cứu của Low và các cộng sự (1988) đã điều tra khoảng cách kỳ vọng giữa KTV và các nhà phân tích tài chính về mục tiêu kiểm toán tại Singapore. Những đối tƣợng khảo sát đƣợc cung cấp danh sách 13 mục tiêu của cuộc kiểm toán. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mục tiêu cơ bản của cuộc kiểm toán là đƣa ra ý kiến của KTV về BCTC. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng cuộc kiểm toán cần đƣợc xem nhƣ là sự bảo đảm về tính chính xác của BCTC của một đơn vị.
Nói cách khác, mong đợi của các nhà phân tích tài chính về trách nhiệm của KTV trong việc ngăn chặn và phát hiện sai phạm trọng yếu từ phía KTV cao hơn những gì mà KTV có thể thực hiện. Humphrey và cộng sự (1993) thực hiện cuộc điều tra để thu thập bằng chứng về ý kiến và nhận thức về kiểm toán từ nhiều nhóm ngƣời khác nhau. Bảng câu hỏi gồm 35 câu hỏi liên quan đến mục tiêu kiểm toán, vai trò của KTV và 19 câu hỏi liên quan đến kết quả kiểm toán. Kết quả chỉ ra có sự khác biệt đáng kể liên quan đến nhận thức về vai trò của KTV, mục tiêu kiểm toán, và đánh giá kết quả kiểm toán trên các khía cạnh phản ứng với rủi ro, thiết lập các thủ tục kiểm toán phù hợp và tƣ cách nghề nghiệp của KTV (không tƣ lợi, khách quan).
Nói chung, về kỳ vọng đối với vai trò của KTV thì trong mọi trƣờng hợp, KTV có thể biết đƣợc vai trò hạn chế của mình nhiều hơn so với khách hàng kiểm toán và ngƣời sử dụng BCTC. Nhận thức về mục tiêu kiểm toán, kết quả nghiên cứu cho thấy việc thiếu hiểu biết về mục tiêu và chức năng kiểm toán ở Anh không có nhiều khác biệt so với phát hiện thu đƣợc từ nghiên cứu của Lee (1970). Tƣơng tự nhƣ vậy, nghiên cứu của Monroe và Woodliff (1994) khảo sát AEG giữa KTV và ngƣời sử dụng BCTC liên quan đến mức độ tin cậy của báo cáo kiểm toán và tác động từ việc thay đổi thuật ngữ sử dụng trong báo cáo kiểm toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại AEG liên quan đến trách nhiệm của KTV về ngăn ngừa, phát hiện gian lận và hành vi bất hợp pháp.
Ngƣời sử dụng báo cáo kiểm toán mong đợi KTV thực hiện vai trò giám sát xã hội. Bên cạnh đó, tồn tại khoảng cách thông tin trên báo cáo kiểm toán khi sử dụng các thuật ngữ khác nhau. Thay đổi báo cáo kiểm toán có tác động đến niềm tin về mục tiêu của một cuộc kiểm 7 toán. Việc sửa đổi từ ngữ trong báo cáo kiểm toán cũ giúp loại bỏ một vài sự khác biệt nhƣng cũng tạo ra một vài khác biệt mới về niềm tin đối với các thông điệp đƣợc truyền tải từ báo cáo kiểm toán.
Tóm lại, các nghiên cứu trên đã chứng minh bản chất của AEG là do khác biệt trong quan điểm của ngƣời sử dụng BCTC và của KTV liên quan đến các khía cạnh khác nhau của nghề nghiệp kiểm toán nhƣ vai trò, chức năng và mục tiêu kiểm toán, mức độ đảm bảo, độ tin cậy của nghề nghiệp kiểm toán và mức độ hữu ích của báo cáo kiểm toán,. Nghiên cứu thực nghiệm về các thành phần căn bản tạo thành AEG. Khá nhiều nghiên cứu điều tra các khác biệt giữa ngƣời sử dụng BCTC và KTV là từ các thành phần nào. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh 2 thành phần chủ chốt tạo ra sự khác biệt này là tính độc lập và trách nhiệm của KTV.
Nghiên cứu về thành phần tính độc lập của KTV Nghiên cứu của M. Salehi, Ali Mansoury và Z. Azary (2009) bàn về tính độc lập của KTV ảnh hƣởng đến AEG. Tính độc lập là yếu tố căn bản để có đƣợc sự tin cậy của công chúng vào báo cáo của KTV.
Nghiên cứu xác định nguyên nhân làm giảm tính độc lập là sự phụ thuộc về kinh tế của KTV đối với khách hàng, cạnh tranh trong thị trƣờng kiểm toán, cung cấp các dịch vụ ngoài kiểm toán. Những nguyên nhân này làm cho KTV không thể đƣa ra một báo cáo trung thực. Nghiên cứu kết luận rằng “sự độc lập của KTV là một yếu tố quan trọng để giảm AEG, bởi vì các nhà đầu tƣ và những ngƣời sử dụng khác đang mong đợi nhiều hơn sự độc lập từ các KTV và công ty kiểm toán”. Vì vậy, KTV phải luôn duy trì sự độc lập của mình trong cuộc kiểm toán.
Nghiên cứu của Kanaka Durga (2015) về các yếu tố tạo nên AEG. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có nhiều yếu tố cấu thành nên AEG trong đó sự độc lập của KTV là yếu tố quan trọng nhất. Theo đó, sự phụ thuộc kinh tế vào khách hàng, mong muốn giữ lại khách hàng quan trọng và đặc biệt là các dịch vụ phi kiểm toán làm giảm tính độc lập của KTV. Vì vậy, KTV có trách nhiệm công bố đầy đủ cho các cổ đông các dịch vụ phi kiểm toán, nhất là trong những trƣờng hợp các dịch vụ 8 phi kiểm toán đƣợc thực hiện nhiều hơn các dịch vụ kiểm toán.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các dịch vụ phi kiểm toán không đƣợc làm ảnh hƣởng đến sự độc lập của KTV và phải nằm trong khuôn khổ pháp lý và luật pháp. KTV cần tránh bất cứ điều gì làm giảm lòng tin của công chúng đối với nghiệp vụ kiểm toán BCTC. Nghiên cứu về thành phần trách nhiệm của KTV Nghiên cứu của McEnroe và Martens (2001) so sánh nhận thức của KTV và các nhà đầu tƣ về trách nhiệm của KTV. Kết quả nghiên cứu cho thấy so với KTV, nhà đầu tƣ có những kỳ vọng cao hơn trong các khía cạnh bảo đảm của kiểm toán nhƣ là: (1) Các khoản mục quan trọng đối với các nhà đầu tƣ và các chủ nợ đã đƣợc báo cáo hay trình bày trong các BCTC; (2) Các KTV đã thực hiện chức năng nhƣ là “cơ quan giám sát của công chúng” đối với chủ nợ, các cổ đông của công ty đƣợc kiểm toán; (3) Hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty đã đƣợc kiểm toán có hiệu quả; (4) Các BCTC không còn có sai sót do gian lận của nhà quản lý; (5) Các BCTC không còn có sai sót nhằm che giấu hành vi gian lận của nhân viên; (6) Không có hành vi vi phạm pháp luật đƣợc thực hiện bởi công ty đƣợc kiểm toán.
Nghiên cứu của Fadzly và Ahmad (2004) nhằm hai mục tiêu: thứ nhất là kiểm tra xem có hay không sự tồn tại AEG liên quan đến trách nhiệm KTV dựa vào quan điểm của KTV, đơn vị đƣợc kiểm toán và các đối tƣợng có lợi ích liên quan tại Malaysia; từ đó nghiên cứu tiếp tục mục đích thứ hai là xác định bản chất của AEG theo khuôn khổ của Porter (1993). Kết quả chứng minh rằng có sự tồn tại của AEG ở Malaysia và cho thấy rằng công ty đƣợc kiểm toán và các đối tƣợng liên quan đặt kỳ vọng cao hơn nhiều về trách nhiệm của KTV. Tồn tại AEG đáng kể liên quan đến trách nhiệm của KTV trên các khía cạnh: (1) Ngăn ngừa và phát hiện gian lận, lập BCTC cho khách hàng kiểm toán, duy trì sổ sách kế toán cho khách hàng kiểm toán, đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu; (2) Trách nhiệm pháp lý của KTV đối với trƣờng hợp có gian lận hoặc thất bại trong kinh doanh của khách hàng kiểm toán, đối với những dự báo về triển vọng kinh doanh trong tƣơng lai. Nghiên cứu của Porter (2012) đƣợc mở rộng từ chính nghiên cứu của bà từ năm 1999 khảo sát tại New Zealand và Anh nhằm xác định và giải thích sự khác 9 biệt về AEG giữa năm 2008 và 1999.