CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, xác định sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp và phạm vi tiến hành nghiên cứu cũng như ý nghĩa của của nghiên cứu này. Nghiên cứu nhằm mục đích phân tích sự ảnh hưởng của tài sản thương hiệu, danh tiếng trường đại học và sự hài lòng đến ý định truyền miệng của sinh viên trong lĩnh vực giáo dục đại học. Cụ thể là xác định xác định các yếu tố đo lường tài sản thương hiệu trường đại học, từ đó phân tích, đánh sự tác động của tài sản thương hiệu, danh tiếng, sự hài lòng đến ý định truyền miệng của sinh viên. Cuối cùng là đưa ra hàm ý quản trị về tài sản thương hiệu, danh tiếng, sự hài lòng đến ý định truyền miệng của sinh viên các trường Đại học tại thành phố Hồ Chí Minh.
7 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HỈNH NGHIÊN cứu 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Thương hiệu Thương hiệu là một khái niệm có ý nghĩa rất quan trọng trong lĩnh vực tiếp thị và kinh doanh. Thương hiệu đóng góp ý nghĩa đối với danh tiếng của một công ty đồng thời thương hiệu còn đóng góp một phần ý nghĩa của việc tạo ra sự trung thành đối với khách hàng, làm tăng doanh số, doanh thu của doanh nghiệp. Theo như Aaker đưa ra rằng thương hiệu là một tài sản vô hình, vừa có thể là một cái tên, cũng có thể là một biểu tượng hay một ký hiệu, cũng có thể là hình ảnh, thông điệp giá trị cốt lõi và trải nghiệm của khách hàng hoặc là sự kết hợp của các yếu tố trên. Thương hiệu có thể được xem như là một phần của sản phẩm hoặc dịch vụ và nhiệm vụ của thương hiệu chính là dùng để nhận diện sản phẩm của nhà sản xuất này với các sản phẩm tương đồng của các nhà sản xuất khác hay của đối thủ cạnh tranh hiện diện trên thị trường.
Nó giúp tạo ra sự tín nhiệm cũng như giúp tạo ra sự nhận diện của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của công ty. Đồng thời thương hiệu còn có chức năng như một công cụ bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ các nhà sản xuất trước các sản phẩm tương đồng của những công ty đối thủ cạnh tranh cung cấp (Aaker, 1991). Đối với bối cảnh trường đại học, thương hiệu đảm nhiệm chức năng giúp thể hiện được cách thức tổ chức, hoạt động để thực hiện việc làm thỏa mãn những yêu cầu của sinh viên một cách hiệu quả nhất (Temple, 2006). Bên cạnh đó, thương hiệu trường đại học còn được xem là những dấu ấn tổng quát về các kiến thức, kỹ năng, hình ảnh, niềm tin, trải nghiệm thực tế mà trường đại học đã gây dựng trong tâm trí sinh viên và cộng đồng.
Đây chính là những đặc điểm để phân biệt cơ sở giáo dục này với các cơ sở giáo dục khác và là cơ sở để đánh giá được năng lực của trường đại học trong việc đáp ứng những mong muốn và nhu cầu của sinh viên (Nguyen và cộng sự, 2016; Caywood, 2012). Từ đó cho thấy được, thương hiệu là một yếu tố vô cùng quan trọng trong giáo dục đại học vì nó không chỉ giúp thu hút mà còn giúp giữ chân sinh viên mà thương hiệu còn đem lại lợi ích trong việc tăng cường sự tin cậy cũng như danh 8 tiếng đối với trường đại học và đặc biệt là tạo ra cá tính riêng, sự khác lạ đối với các thương hiệu trường đại học khác. Vì vậy, khi một trường đại học có hình ảnh thương hiệu ấn tượng, mang lại cái nhìn thiện cảm, tốt đẹp đối với cộng đồng, thì trường đại học đó cần cho sinh viên liên tưởng, cảm nhận và trải nghiệm học tập đáng nhớ, độc đáo để sinh viên cảm thấy hạnh phúc, hài lòng khi học tập tại trường đại học của mình so với những trường đại học khác. Theo nghiên cứu của Brown & Mazzarol (2009) nhận thấy rằng sự hài lòng của sinh viên úc bị chi phối mạnh bởi hình ảnh nhận thức về trường đại học và có thể đóng góp vào lòng trung thành của sinh viên (MacMillan và cộng sự, 2005).
Nhìn chung hình ảnh của một thương hiệu trường đại học có tác động đáng kể và tích cực đến sự hài lòng của sinh viên. Vì vậy thương hiệu trường đại học có một ý nghĩa to lớn đối với các trường đại học.2 Tài sản thương hiệu Tài sản thương hiệu là những gì mà khách hàng phản ứng qua lại đối với các hoạt động tiếp thị về thương hiệu (Keller, 1993) hoặc phản ứng khác nhau của khách hàng giữa sản phẩm đã có thương hiệu và sản phẩm chưa có thương hiệu (Yoo & Donthu, 2001). Bên cạnh đó, theo quan điểm của Aaker (1991) thì tài sản thương hiệu có thể hiểu đơn giản là tên, logo, slogan hay những biểu tượng liên quan đến doanh nghiệp và chúng sẽ góp phần làm gia tăng giá trị của sản phẩm hoặc dịch vụ đối với bên liên quan. Mô hình nghiên cứu của Aaker (1991) đo lường tài sản thương hiệu dựa vào khách hàng được xem là một trong những mô hình có tính khái quát cao và được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và kiểm chứng thực tiễn cho nhiều loại sản phẩm khác nhau như (Villarejo-Ramos & Sanchez-Franco, 2005; Amaretta & Hendriana, 2011; Musekiwa và cộng sự, 2013; Khoshtaria và cộng sự, 2020).
Cụ thể, Aaker (1991) đã xác định bốn yếu tố chính cấu thành tài sản thương hiệu dựa vào khách hàng, bao gồm: nhận biết thương hiệu (brand awareness), liên tưởng thương hiệu (brand associations), chất lượng cảm nhận (perceived quality), và trung thành thương hiệu (brand loyalty). Aaker (1991) khẳng định rằng bốn yếu tố trên là những yếu tố cơ bản tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng. Keller (1993) lập luận rằng tài sản thương hiệu hình thành khi người tiêu dùng quen thuộc với thương hiệu và tạo ra các 9 liên tưởng nhận thức và tình cảm thuận lợi, độc đáo, có khả năng ảnh hưởng đến danh tiếng của công ty và sự hài lòng của khách hàng. Nghiên cứu này dựa trên khái niệm của Aaker (1991) để xem xét tài sản thương hiệu trong bối cảnh các trường đại học.
Bên cạnh mô hình của Aaker (1991) thì các nghiên cứu của Marques và cộng sự (2020) và Khoshtaria và cộng sự (2020) cũng là những tài liệu tham khảo nền tảng cho bài viết này. Trong đó, Marques và cộng sự (2020) nghiên cứu hiệu suất của các cấu trúc tài sản thương hiệu (nhận biết thương hiệu, liên tưởng thương hiệu, chất lượng cảm nhận và lòng trung thành thương hiệu) trước và sau quá trình tái thương hiệu. Còn Khoshtaria và cộng sự (2020) đã nghiên cứu tác động của các khía cạnh giá trị thương hiệu cốt lõi (nhận biết thương hiệu, liên kết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, lòng trung thành thương hiệu và đánh giá kiến thức) và giá trị bổ sung (dịch vụ thư viện, dịch vụ ăn uống, phát triển nghề nghiệp, cơ sở vật chất) đối với danh tiếng của trường đại học. Do đó, chúng tôi đã cung cấp các mô tả ngắn gọn về bốn khía cạnh của tài sản thương hiệu dựa trên nhận thức của sinh viên bao gồm: chất lượng cảm nhận là một khía cạnh quan trọng đáng kể của tài sản thương hiệu.
Nó không phải là chất lượng thực tế của một sản phẩm, mà là cách khách hàng nhận ra chất lượng của một sản phẩm (Zeithaml, 1988). Bên cạnh đó liên tưởng thương hiệu cũng là một khía cạnh quan trọng của tài sản thương hiệu (Aaker,1991; Keller, 1993). Nó phản ánh ý nghĩa của một thương hiệu đối với khách hàng. (Aaker, 1991) cho biết liên tưởng thương hiệu sẽ khác nhau bởi các nguồn khác nhau.
Tuy nhiên, có nhiều khả năng những nguồn đó có thể bị giới hạn bởi các hiệp hội tổ chức và tính cách thương hiệu, những thứ đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị của thương hiệu. Đồng thời, lòng trung thành thương hiệu cũng là một trong những yếu tố cấu thành thiết yếu của tài sản thương hiệu, đó là sự gắn kết của khách hàng đối với thương hiệu (Aaker, 1991). Cuối cùng là yếu tố nhận biết thương hiệu, đó là những gì được lưu giữ, ghi lại về thương hiệu trong trí nhớ của người tiêu dùng (Aaker, 1991; Keller, 1993). Theo Keller (1993) khẳng định rằng việc thu hồi thương hiệu và nhận diện thương hiệu là những nền tảng xây dựng nên nhận biết về thương hiệu.
Chúng đề cập đến khả năng của người tiêu dùng trong việc ghi nhớ những thông tin về sản phẩm, dịch vụ và đưa ra các quyết định tại cửa hàng.1 Chất lượng cảm nhận Chất lượng cảm nhận là những đánh giá, cảm nhận của khách hàng về chất lượng của sản phẩm, dịch vụ cụ thể. Khách hàng có thể đánh giá về các yếu tố như tính thân thiện, tính dễ sử dụng, hình thức của sản phẩm. Nhưng những đánh giá này thường dựa vào ý kiến chủ quan, những cảm nhận riêng của cá nhân và dựa trên các liên tưởng bên ngoài như ngoại hình, màu sắc, mùi vị hoặc chức năng vì vậy những đánh giá này thường không “hợp lý” (Baalbaki & Guzman, 2016). Mỗi cá nhân sẽ có những tiêu chuẩn riêng về chất lượng vì vậy đối tượng khách hàng khác nhau sẽ có chất lượng cảm nhận khác nhau (Aaker, 1991).
Khi chất lượng cảm nhận càng tăng thì tưong tác của người tiêu dùng với thư ong hiệu càng tốt (Yoo và cộng sự, 2000). Chất lượng cảm nhận chính là thành phần không thể bỏ qua đối vói giá trị thưong hiệu vì những người tiêu dùng thường có xu hướng yêu thích thưong hiệu mà họ có trải nghiệm tích cực hon là những thưong hiệu mà họ có những trải nghiệm tiêu cực (Zeithaml, 1988).2 Liên tưởng thương hiệu Liên tưởng là một khái niệm quan trọng vì chúng chi phối mạnh mẽ quyết định của người tiêu dùng (Swoboda và cộng sự, 2016). Liên tưởng thưong hiệu là những liên kết, kết nối tâm lý từ thưong hiệu đến khách hàng về một đặc điểm cụ nào đó đối với sản phẩm, dịch vụ. Nó cũng có thể là những ấn tượng, cảm xúc, suy nghĩ hay những hồi ức tích cực của khách hàng về thương hiệu (Aaker, 1991).
Hay hiểu đơn giản liên tưởng về thương hiệu là những hiểu biết, trải nghiệm của khách hàng đối với thương hiệu. Người tiêu dùng lưu trữ thông tin, đặc điểm về sản phẩm hay dịch vụ của thương hiệu như tính năng động, thân thiện, sang trọng và đáng tin cậy (Huang & Sarigollii, 2014).