Đặt vấn đề Công nghệ in 3D hoặc được gọi là Công nghệ bồi đắp vật liệu (AM – Additive Manufacturing) được thế giới coi là một trong những công nghệ quan trọng của cách mạng công nghiệp hiện nay. Công nghệ bồi đắp vật liệu là một quá trình dùng các vật liệu để chế tạo nên sản phẩm 3D bằng phương pháp đắp chồng từng lớp vật liệu lên nhau, từ dữ liệu thiết kế 3D đã được vẽ sẵn trên phần mềm CAD (Computer Aided Design). Với công nghệ bồi đắp này giúp các nhà thiết kế có thể tạo ra các sản phẩm chính xác từ mô hình 3D CAD với độ phức tạp cao trong khoảng thời gian ngắn và chi phí thấp hơn so với các công nghệ chế tạo truyền thống. Các sản phẩm của công nghệ in 3D ngày càng nhiều.
Trong những năm gần đây thì công nghệ in 3D đã được các nhà nghiên cứu triển khai đưa vào các lĩnh vực công nghiệp, khoa học và cuộc sống xã hội hàng ngày. Cho đến nay công nghệ in 3D đã đạt được nhiều thành công lớn và phong phú. Trong đó, các công nghệ in 3D từ vật liệu lỏng đang là hướng phát triển của cả thế giới nên sản phẩm được sản xuất từ công nghệ in 3D từ vật liệu lỏng rất đa dạng. Trong các công nghệ in 3D từ vật liệu lỏng thì công nghệ xử lý ánh sáng kỹ thuật số (DLP) đáp ứng được các yêu cầu về tốc độ in, độ chính xác, độ phức tạp và độ láng mịn của sản phẩm.
Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm của công nghệ in 3D này còn cần phải được nghiên cứu và cải tiến thêm để có thể đáp ứng nhu cầu của sử dụng, đặc biệt là cơ tính của sản phẩm. Để góp phần định hướng giảm chi phí, thời gian chế tạo và nâng cao chất lượng của các sản phẩm in 3D bằng công nghệ xử lý ánh sáng kỹ thuật số (DLP) nên đề tài “Ảnh hưởng thông số in 3D của công nghệ xử lý ánh sáng kỹ thuật số (DLP) đến độ bền kéo sản phẩm” đã được triển khai và thực hiện. Kết quả của đề tài sẽ góp phần phục vụ các nghiên cứu về in 3D bằng công nghệ xử lý ánh sáng kỹ thuật số (DLP), đồng thời giúp cho các cơ sở chế tạo máy và sản xuất các sản phẩm in 3D sử dụng công nghệ công nghệ xử lý ánh sáng kỹ thuật số (DLP) có các thông số công nghệ 1 Luan van khả thi áp dụng vào quy trình chế tạo, sản xuất phù hợp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm in. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2.
Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu và bổ sung cơ sở lý thuyết về công nghệ bồi đắp vật liệu (AM) nói chung và công nghệ DLP nói riêng. - Nghiên cứu chế tạo mẫu kéo để kiểm tra các thông số công nghệ khác nhau bằng phương pháp công nghệ DLP. - Xác định được mối quan hệ giữa các thông số công nghệ chính với các yếu tố quyết định tới khả năng ảnh hưởng đến độ bền kéo, từ đó đưa ra được vùng thông số công nghệ phù hợp. Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần đề ra được một phương án phù hợp trong việc chế tạo, sản xuất các sản phẩm in từ công nghệ DLP ở các xưởng sản xuất tại Việt Nam.
- Kết quả nghiên cứu đạt được có thể ứng dụng vào việc chế tạo các chi tiết chịu kéo trong công nghiệp. - Giảm được thời gian, công sức, nâng cao chất lượng sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế và tăng tính cạnh tranh cho một số lĩnh vực chế tạo các sản phẩm bằng công nghệ DLP. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3. Mục tiêu chung Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu ảnh hưởng thông số in 3D bằng công nghệ xử lý ánh sáng kỹ thuật số (DLP) đến độ bền kéo sản phẩm.
Qua đó, các thông số công nghệ in 3D bằng phương pháp công nghệ DLP, tiêu chuẩn ASTM D-638 cũng được khảo sát và chỉ rõ. Mục tiêu cụ thể Từ mục tiêu chung của đề tài, các mục tiêu cụ thể được đặt ra cho đề tài như sau: 2 Luan van - Nghiên cứu ảnh hưởng của các thông số đến độ bền kéo của sản phẩm khi in bằng công nghệ DLP theo tiêu chuẩn ASTM D-638; - Dùng nhựa lỏng Anycubic để chế tạo mẫu kéo bằng phương pháp công nghệ DLP; - Kiểm tra và phân tích độ bền kéo của sản phẩm in 3D bằng công nghệ DLP; - Tìm ra quy luật thay đổi của độ bền kéo phụ thuộc vào các yếu tố bằng phân tích hồi quy và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các thông số chính đến độ bền kéo của sản phẩm nhựa của công nghệ DLP bằng phương pháp thực nghiệm. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu - Công nghệ in 3D bằng phương pháp DLP; - Các thông số công nghệ khi in bằng phương pháp DLP ảnh hưởng đến độ bền kéo của sản phẩm; - Độ bền kéo của sản phẩm in bằng phương pháp DLP theo tiêu chuẩn ASTM D-638.
Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu các công việc sau đây được thực hiện: - Phương pháp in là phương pháp DLP; - Dùng nhựa lỏng Anycubic để in các mẫu thực nghiệm; - In thực nghiệm các chi tiết mẫu theo tiêu chuẩn ASTM D-638, được kiểm tra đánh giá độ bền kéo bằng phương pháp thử kéo. - Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các thông số chính đến độ bền kéo của sản phẩm nhựa của công nghệ DLP bằng phương pháp thực nghiệm. Điểm mới của luận văn Hiện nay, công nghệ in 3D bằng phương pháp DLP còn mới ở Việt Nam. Các nghiên cứu về chất lượng sản phẩm được in bằng công nghệ in 3D bằng phương pháp DLP còn ít.
Vì vậy nghiên cứu ảnh thưởng các thông số in 3D của công nghệ xử lý ánh sáng kỹ thuật số (DLP) đến độ bền kéo của sản phẩm giúp hệ thống hóa và bổ 3 Luan van sung cơ sở lý thuyết về công nghệ in 3D của công nghệ xử lý ánh sáng kỹ thuật số (DLP) nói riêng và công nghệ in 3D nói chung của nước ta. Kết cấu của luận văn Nội dung nghiên cứu của đề tài được cầu trúc trong 4 chương với các trình bày chi tiết như sau: - Mở đầu Giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài cũng như giới hạn phạm vi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, … - Chương 1: Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Giới thiệu công nghệ in AM, giới thiệu vật liệu in trong công nghệ in 3D, các công nghệ in 3D phổ biến hiện nay, … - Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kế hoạch thực hiện của đề tài. - Chương 3: Cơ sở lý thuyết Trình bày nguyên lý chung của công nghệ in 3D, công nghệ DLP, nguyên lý đóng rắn của nhựa expoxy bằng tia UV,. - Chương 4: Thực nghiệm và kết quả nghiên cứu Trình bày các thông số công nghệ khi in sử dụng công nghệ DLP, thiết kế thực nghiệm, kết quả thực nghiệm.
- Kết luận và kiến nghị Nhận xét và đánh giá các kết quả thu được, đưa ra phương hướng phát triển thêm cho đề tài. - Tài liệu tham khảo - Phụ lục. 4 Luan van Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Giới thiệu về công nghệ in 3D Có rất nhiều thuật ngữ khác nhau dùng để nói về công nghệ bồi đắp vật liệu. Theo Hiệp hội vật liệu và thử nghiệm Mỹ.
Công nghệ in 3D trái ngược với công nghệ cắt gọt truyền thống dùng, công nghệ in 3D là một quá trình sử dụng các vật liệu để chế tạo ra mô hình 3D bằng phương pháp đắp chồng từng lớp nguyên liệu lên nhau[1]. In 3D là một quá trình chế tạo một vật thể ba chiều từ mô hình 3D kỹ thuật số được xây dựng bởi phần mềm CAD. In 3D bao gồm các công đoạn khác nhau được kết hợp với nhau để tạo ra một sản phẩm ba chiều. Khi tiến hành in 3D, các lớp nguyên liệu được đắp chồng lên nhau và được định dạng trong sự kiểm soát của máy tính để tạo ra các mô hình.
Đầu tiên, ta chuẩn bị ngay trước khi in một bản thiết kế vật thể 3D của đối tượng bạn muốn in. Vật thể 3D này có thể được tạo bằng phần mềm CAD hoặc với máy quét 3D. Tiếp theo, khi mô hình vật thể đã được hoàn thiện, ta dùng phần mềm chia nhỏ mẫu thiết kế thành nhiều lớp khác nhau và chuyển thông tin đó đến các thiết bị in 3D. Sau đó, máy in 3D sẽ tự chế tạo vật thể theo từng lớp từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên cho đến khi vật thể cần sản xuất được hoàn thiện.
Sau khi sản phẩm được máy in xong chúng còn được trải qua khâu hoàn thiện sản phẩm. Có thể là khâu loại bỏ các giá đỡ, bụi bẩn hoặc các vật liệu khác bám trên sản phẩm. Hoặc các sản phẩm được thiêu kết để đạt được độ hoàn hảo trên sản phẩm. Ngành công nghiệp in 3D ngày càng đổi mới về phần cứng cũng như các vật liệu và quy trình để tạo ra các đối tượng hoặc các bộ phận.
Tùy thuộc vào nhiều yếu tố như ngân sách, thiết kế hoặc chức năng, việc chọn quy trình in 3D phù hợp cũng như chất liệu phù hợp là rất quan trọng. In 3D có thể tạo ra nhiều đối tượng in 3D khác nhau mà trước đây chỉ được chế tạo thông qua các phương pháp sản xuất hàng loạt. 5 Luan van Hình 1.1: Một sản phẩm của công nghệ in 3D Ưu và nhược điểm của công nghệ in 3D In 3D có rất nhiều ưu điểm so với các phương pháp cắt gọt truyền thống. Khi áp dụng công nghệ in 3D, các ý tưởng của nhà thiết kế được xây dựng, tùy chỉnh trên các phần mềm thiết kế sau đó sử dụng phần mềm cắt lát để chia mô hình thành từng lớp nhỏ tùy theo nhà thiết kê.
Các tập tin thiết kế đó được chuyển trực tiếp tới một bộ phận hoàn chỉnh sản phẩm và tiến hành in sản phẩm. Như vậy, quá trình in 3D được rút ngắn nhiều bước so với sản xuất truyền thống. Do đó, chi phí, thời gian để sản xuất một sản phẩm giảm đi rất nhiều. In 3D cũng có thể tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu chế tạo sản phẩm, làm giảm lượng vật liệu bị lãng phí trong sản xuất và tạo ra các vật thể có độ phức tạp hoặc sản phẩm không thể sản xuất với các kỹ thuật truyền thống thông thường.