Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC MỞ RỘNG VON TU QUA PHAN MON LUYEN TU VA CAU LOP3. Một số khái niệm có liên quan 1. Biện pháp Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
Là các phương pháp đưa ra để áp dụng cho một vần đề [05, tr. Mỡ rộng Mở rộng là làm cho phạm vi, quy mô trở nên rộng lớn hơn trước, mở rộng phạm vi hoạt động [05, tr. Vấn từ Vốn từ là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình thức âm, chữ và nội dung ngữ pháp) mà mỗi cá nhân tích lũy được trong ký ức của mình. Vồn từ của từng người cụ thể, không ai giống ai.
Vốn từ nhiều hay ít, đơn giản hay đa dạng tùy thuộc ở kinh nghiệm sống, ở trình độ học vấn, ở sự giao tiếp, giao lưu văn hóa ngôn ngữ của từng người. Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một số lượng từ vựng hết sức lớn và phong phú, có thể lớn tới hàng chục vạn, hàng triệu từ. Từ vựng của ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có chất lượng khác nhau. Trong vốn từ ngữ của một ngôn ngữ nào đó cũng đều có từ mới và từ cũ, những từ phổ biến chung, những từ văn hóa (là những từ chuẩn mực) những từ chuyên môn, từ vay mượn.
Vốn từ của một ngôn ngữ và vốn từ của cá nhân sử dụng có quan hệ bao hàm. Cụ thể, vốn từ của cá nhân được hiểu là bộ phận của vốn từ chung. Vốn từ của một cá nhân là toàn bộ các từ và đơn vị tương đương từ tổn tại trong trí óc của cá nhân đó và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt động giao tiếp. Vốn từ của cá nhân được tích lũy trong đầu óc một người, còn vốn từ của ngôn ngữ theo cách nói của F.Saussude thì được lưu giữ “trong các bộ óc của một tập thể.
những người cùng một cộng đồng ngôn ngữ” [18, tr. Mỡ rộng vẫn từ" "Toàn bộ các từ và ngữ có định (thành ngữ, tục ngữ,.) là vốn từ mà HS có được trong quá trình học tập, giao tiếp trong và ngoài nhà trường. Trước tuổi đến trường TH, các em đã tích lũy được một sé vốn từ nhờ giao tiếp trong môi trường gia đình và nhà trường mầm non. Nhưng những từ mà các em tích lũy được còn lộn xộn, các em chưa hiểu nghĩa từ chính xác và sắp xếp chưa hệ thống nên các em thường bối rối và gặp khó khăn trong việc sử dụng từ.
Khi đến trường TH, vốn từ của các em dân được bé sung và được sắp xếp thành hệ thống trật tự nhát định để các em đễ sử dụng. Mở rộng vốn từ là một đạng bài trong các phân môn của Tiếng Việt, là yêu cầu bắt buộc với học sinh. Theo cách này, học sinh có thể mở rộng được vốn từ, nắm vững nghĩa của từ, nắm vững nội dung của bài học, của chủ điểm, vừa rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ. Nhờ đó, vốn từ của học sinh ngày càng phong phú [17, tr.
Phân môn Luyện từ và câu Phân môn Luyện từ và câu là một môn học giữ vị trí quan trọng trong chương trình Tiếng Việt cấp TH. Ngay từ đầu của hoạt động học tập ở trường, học sinh đã được làm quen với lý thuyết của từ và câu. Sau đó, chương trình được mở rộng thêm và nâng cao dần để phục vụ cho nhu cầu ngày một tăng trong cuộc sống của các em cũng như trong lao động, học tập và giao tiếp. Phân môn Luyện từ và câu là môn học có tầm quan trọng rất lớn, nó giúp học sinh hiểu biết hơn về từ, câu và cách sử dụng các loại dấu câu trong khi nói và viết [02, tr.
Ý nghĩa của việc mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3 Như chúng ta đã biết, trong đời sống hàng ngày, bản thân mỗi chúng ta đều sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, trao đổi công việc hay bộc lộ cảm xúc. Để thực hiện được việc này thì đòi hỏi mỗi chúng ta phải có vốn từ phong phú và những hiểu biết về nghĩa của từ, về cách dùng từ. Thực tế đã có nhiều trường hợp do không có đủ vốn từ nên dẫn đến sử dụng từ không phù hợp trong giao tiếp, trong viết văn bản. Với đối tượng học sinh lớp 3, vốn từ và kỹ năng diễn đạt còn nhiều hạn chế nên ít nhiều ảnh hưởng đến việc đặt câu, diễn đạt bằng lời nói, lời kể, là tiền đề dẫn đến sự tự ti, thiếu tính mạnh dạn, thiếu tính tự tin của các em.
"Từ có vai trò rất quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ, con người muốn tư duy phải có ngôn ngữ. Không có vốn từ đầy đủ, con người không thể sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp. Việc dạy từ ngữ ở tiểu học sẽ tạo cho học sinh có năng lực về từ ngữ, giúp cho học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ, có phương tiện giao tiếp để phát triển toàn điện. Vốn từ của học sinh càng giàu thì khả năng sử dụng từ càng lớn, càng chính xác, hoạt động giao tiếp sẽ thể hiện rõ ràng và nhạy bén hơn.
Do đó, việc cung cấp kiến thức lý thuyết về từ cũng như kỹ năng nắm nghĩa, sử dụng từ cho học sinh TH nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng là hết sức cần thiết. Vì vậy, việc mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3 có ý nghĩa hết sức quan trọng : - Mở rộng, hệ thống hóa vồn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ, câu và văn bản. - Rèn cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng đấu câu vào trong luyện tập thực hành như làm văn, viết đoạn văn. - Bởi dưỡng cho các em thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; có ý thức sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp.
Một số vấn để về phân môn Luyện từ và cầu 1. VỊ trí cũa phân môn Luyện từ và câu Chương trình Tiếng Việt TH mới đã sát nhập hai phân môn Từ ngữ và Ngữ pháp thành phân môn LTVC. Cơ sở của việc sát nhập này là xuất phát từ mối quan hệ chặt chế giữa từ và câu trong giao đồng thời coi trọng yêu cầu thực hành của môn học. Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ.
Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chức năng giao tiếp. Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan trọng của việc dạy LTVC ở tiêu học. Việc dạy LTVC nhằm mở rộng, hệ thống hoá, làm phong phú vốn từ của HS, cung cấp cho HS những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho HS kĩ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm, đồng thời giúp các em có khả năng hiểu các câu nói của người khác.
LTVC có vai trò hướng dẫn HS trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em. Nhiệm vụ của phân môn Luyện tt và câu 1. Làm giàu vốn từ và phái triển năng lực dùng từ đặt câu. - Dạy nghĩa từ : Làm cho HS nắm nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vồn từ HS những từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ.
Dạy từ ngữ phải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới chưa biết trong văn bản, cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ra những nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong những ngữ cảnh khác nhau. - Hệ thống hóa vốn từ : Dạy HS biết cách sắp xếp các từ mộtcách có hệ thống trong trí nhớ của mình để tích luỹ từ được nhanh chóng và tạo ra tính thường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi. Công việc này hình thành ở HS kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng đọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tưởng cùng chủ đề, đông nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo. tức là kỹ năng liên tưởng để huy động vốn từ.
- Tích cực hóa vốn từ : Dạy cho HS sử dụng từ, phát triển kỹ năng sử dung từ trong lời nói và lời viết của HS, đưa từ vào trong vốn từ tích cực được HS dùng thường xuyên. Tích cực hóa vn từ tức là dạy HS biết dùng từ ngữ trong, hoạt động nói năng của mình. - Dạy cho học sinh biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu, phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp. Cung cấp một số kiến thức về từ và câu Trên cơ sở vốn ngôn ngữ có được trước khi đến trường, từ những hiện tượng cụ thể của tiếng mẹ đẻ, phân môn LTVC cung cấp cho HS một số kiến thức về từ và câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em.
LTVC trang bị 10 cho HS những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành chức của chúng. Cụ thể là các kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại; các kiến thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao ti Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên, LTVC còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh. Nguyên tắc đạy học của việc MRVT qua phân môn LTVC lớp ‡ 1.1, Nguyên tắc giao tiếp Mục đích cuối cùng của việc MRVT cho HS là giúp HS có thể sử dụng vốn từ của mình để đặt câu, thực hiện hoạt động giao tiếp. Nguyên tắc này yêu cầu việc lựa chọn, sắp xếp nội đung dạy học từ ngữ phải lấy hoạt động giao tiếp làm mục đích; khi dạy LTVC cần phải giải thích rõ cho HS hiểu nghĩa của từ để các em có thể tiếp thu, hoàn thiện chức năng giao tiếp, phải thường xuyên tạo ra ở trẻ những nhu cầu giao tiếp nhất định để các em vận dụng những gì đã học từ những giờ LTVC vào hoạt động giao tiếp [11, tr.
Nguyên tắc trực quan Những hình ảnh cảm tính, những biểu tượng của trẻ về thế giới xung quanh rất cần thiết trong việc dạy học phân môn LTVC. Quan niệm này là cơ sở trong nguyên tắc trực quan.