Tổng quan nghiên cứu

Âm nhạc truyền thống nói chung và các làn điệu dân ca nói riêng là viên ngọc quý trong kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, theo các khảo sát thực tế trong ngành giáo dục, có tới khoảng 70% đến 80% học sinh tiểu học hiện nay bị cuốn hút bởi các phương tiện giải trí trực tuyến và âm nhạc hiện đại, trong khi tỷ lệ học sinh có hiểu biết sâu sắc về các làn điệu dân ca cổ truyền chỉ đạt dưới 20%. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới phương thức giáo dục thẩm mỹ, đưa nghệ thuật truyền thống đến gần hơn với thế hệ trẻ thông qua các sân chơi trải nghiệm sinh động.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm giải quyết khoảng cách lớn giữa chương trình âm nhạc chính khóa mang tính lý thuyết với nhu cầu rèn luyện, thưởng thức nghệ thuật của học sinh. Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát thực trạng nhận thức của đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh, đánh giá tần suất cũng như mức độ khó khăn khi triển khai, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm tối ưu nhằm tích hợp dân ca vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp.

Phạm vi không gian của đề tài được triển khai trực tiếp tại Trường Tiểu học Trần Quốc Toản, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong khung thời gian từ giữa tháng 2 năm 2019 đến tháng 5 năm 2019. Đề tài tập trung nghiên cứu trên nhóm đối tượng học sinh lớp 5 – độ tuổi bản lề có sự hoàn thiện về nhận thức thẩm mỹ và tâm sinh lý ở cấp tiểu học. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh yêu thích và chủ động hát dân ca lên mức trên 85%, tăng khả năng nhận diện các điệu hò, điệu lý địa phương đạt trên 70%, đồng thời trang bị cho 100% giáo viên nhà trường bộ cẩm nang quy trình tổ chức sinh hoạt ngoại khóa âm nhạc bài bản, hấp dẫn và bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng vững chắc của các trường phái sư phạm và văn hóa nghệ thuật tiêu biểu:

Thứ nhất là triết lý giáo dục thực nghiệm của nhà sư phạm lỗi lạc John Dewey. Quan điểm này nhấn mạnh nguyên lý học tập thông qua trải nghiệm thực tế và học thông qua nghệ thuật. Việc đưa dân ca vào trường học không chỉ dừng lại ở mục tiêu bảo tồn thụ động một di sản văn hóa phi vật thể, mà quan trọng hơn là biến các giai điệu dân gian thành phương tiện giáo dục thẩm mỹ sống động, giúp trẻ vừa học vừa chơi, kích thích trí tưởng tượng và sự sáng tạo.

Thứ hai là hệ thống quan điểm về bảo tồn và phát huy âm nhạc truyền thống học đường của Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê. Theo ông, muốn thế hệ trẻ gìn giữ bản sắc văn hóa thì trước hết phải giúp các em hiểu được cái hay, cái đẹp của dân ca; khi đã hiểu sâu sắc thì các em mới yêu thương, say mê học hỏi và tự giác lan tỏa giá trị nghệ thuật đó trong đời sống.

Thứ ba là lý luận về đặc điểm tâm sinh lý và năng lực cảm thụ âm nhạc của học sinh tiểu học từ 6 đến 11 tuổi. Ở giai đoạn này, hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm ưu thế, tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh, dung lượng phổi của trẻ nam và nữ tương đương nhau, âm vực giọng hát chuẩn xác nằm trong khoảng từ nốt La quãng tám nhỏ đến nốt Si giáng quãng tám 1. Các khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt bao gồm: Dân ca Việt Nam (với các thể loại hát ru, hò, lý, đồng dao), Hoạt động ngoại khóa, Giáo dục thẩm mỹ, Di sản văn hóa phi vật thể và Năng lực cảm thụ âm nhạc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 10 giáo viên trực tiếp đứng lớp và 30 học sinh lớp 5/1 tại Trường Tiểu học Trần Quốc Toản, tỉnh Quảng Nam (cùng 65 lượt phiếu khảo sát mở rộng). Mẫu khảo sát được chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích, tập trung vào học sinh khối lớp 5 nhằm đảm bảo khả năng tiếp nhận bảng hỏi và mức độ chuẩn xác trong phản hồi về kiến thức âm nhạc.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận (phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên ngành) và nghiên cứu thực tiễn (khảo sát bằng phiếu anket, phỏng vấn sâu, quan sát giờ sinh hoạt ngoại khóa và thực nghiệm sư phạm). Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học mô tả và phân tích tỷ lệ phần trăm. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính này là nhằm lượng hóa chính xác thực trạng, xác định đúng các biến số cản trở, từ đó đưa ra những kết luận khách quan, có độ tin cậy khoa học cao. Tiến trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ từ tháng 2 năm 2019 đến khi hoàn thiện đánh giá vào tháng 5 năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại Trường Tiểu học Trần Quốc Toản đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Một là, có sự mâu thuẫn rõ rệt giữa nhận thức và hành động của đội ngũ giáo viên. Kết quả cho thấy 80% giáo viên đánh giá việc đưa dân ca vào hoạt động ngoại khóa là quan trọng và rất quan trọng (trong đó 50% chọn mức quan trọng và 30% chọn rất quan trọng). Tuy nhiên, về tần suất thực hiện, có tới 30% giáo viên thừa nhận không bao giờ tổ chức lồng ghép dân ca, 50% chỉ thỉnh thoảng tổ chức và chỉ vỏn vẹn 20% duy trì hoạt động thường xuyên theo chủ đề hàng tháng.

Hai là, học sinh có niềm say mê tự nhiên rất lớn đối với các hoạt động trải nghiệm dân gian nhưng vốn hiểu biết lại vô cùng hạn chế. Khảo sát chỉ ra 96.9% học sinh thích chơi trò chơi dân gian, 76.9% hứng thú với hoạt động ngoại khóa và 69.2% thích hát các bài dân ca. Dù vậy, có tới 30.8% học sinh không kể tên được bất kỳ bài dân ca nào, 53.8% chỉ kể được dưới 3 bài hát đã học trong sách giáo khoa, và chỉ có 15.4% học sinh kể được từ 4 bài dân ca trở lên.

Ba là, mức độ hiểu biết về trò chơi dân gian còn nghèo nàn khi 15.4% học sinh không biết trò chơi nào, 61.5% chỉ biết từ 1 đến 3 trò chơi phổ biến, và chỉ có 23.1% học sinh kể được trên 4 trò chơi.

Bốn là, giáo viên đối mặt với nhiều rào cản lớn khi triển khai: 70% giáo viên gặp rất khó khăn về nguồn kinh phí tổ chức, 80% giáo viên rất khó khăn do thiếu thời gian tìm hiểu và thiết kế trò chơi mới, 60% cảm thấy lúng túng vì phương pháp lồng ghép còn quá mới mẻ, và 40% nhận định học sinh tiếp thu, cảm thụ giai điệu dân ca còn chậm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của thực trạng trên bắt nguồn từ sự lấn át của các phương tiện truyền thông mạng xã hội khiến học sinh ít có môi trường tiếp xúc với âm nhạc dân gian. Thêm vào đó, đặc thù giai điệu dân ca với nhiều nốt luyến láy, rung ngân đòi hỏi kỹ thuật cao, gây khó khăn cho trẻ nếu không có phương pháp hướng dẫn trực quan. Về phía nhà trường, áp lực thời gian dành cho các môn văn hóa cùng sự thiếu thốn về trang thiết bị, nhạc cụ dân tộc và tài chính đã làm giảm tần suất tổ chức các sân chơi nghệ thuật.

Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn tương đồng với các công bố của tác giả Mai Thị Thùy Hương năm 2015 và tác giả Lê Hoàng Dũng năm 2014, khi đều chỉ ra rằng việc giáo dục di sản dân ca trong trường học vẫn còn mang tính thời điểm, chưa trở thành hoạt động nền nếp thường xuyên. Trong nghiên cứu này, các kết quả khảo sát được trực quan hóa mạch lạc thông qua hệ thống 7 bảng biểu thống kê chi tiết và 7 biểu đồ cột so sánh tương quan tỷ lệ phần trăm (như Bảng 1.1, Bảng 1.3, Biểu đồ 1.1 và Biểu đồ 1.5). Cách trình bày này giúp các nhà quản lý giáo dục dễ dàng nhận diện điểm nghẽn thực tế để có hướng đầu tư phù hợp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát và phân tích thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp sư phạm đồng bộ:

Thứ nhất, thành lập và duy trì hoạt động Câu lạc bộ Em yêu làn điệu dân ca tại trường tiểu học. Ban Giám hiệu phối hợp cùng Tổng phụ trách Đội và giáo viên Âm nhạc chịu trách nhiệm xây dựng quy chế và lịch sinh hoạt định kỳ 2 tuần một lần. Mục tiêu đặt ra là thu hút ít nhất 40% đến 50% học sinh khối 4 và khối 5 tham gia thường xuyên, bắt đầu triển khai từ tháng 9 của năm học mới.

Thứ hai, tổ chức định kỳ Hội thi tiếng hát dân ca và trò chơi dân gian quy mô toàn trường. Đơn vị chủ trì là Công đoàn nhà trường, Chi đoàn Thanh niên và Tổ chuyên môn khối. Hội thi được tổ chức 2 lần mỗi năm học vào các dịp lễ lớn như ngày 20 tháng 11 và ngày 26 tháng 3, với chỉ tiêu 100% các lớp tham gia, giúp nâng tỷ lệ học sinh nhận biết từ 5 làn điệu dân ca trở lên đạt mức trên 75%.

Thứ ba, tích hợp diễn xướng dân ca địa phương (như hô hát bài chòi, hát bã trạo, hò khoan Quảng Nam) gắn liền với các trò chơi vận động ngoại khóa. Giáo viên Âm nhạc và Giáo viên Chủ nhiệm chủ động biên soạn các trò chơi như đập niêu, bịt mắt bắt dê kết hợp hát đồng dao. Mục tiêu là đảm bảo 100% học sinh được trực tiếp trải nghiệm diễn xướng dân gian ít nhất 4 lần trong mỗi học kỳ, duy trì liên tục từ tháng 10 đến tháng 4.

Thứ tư, huy động nguồn lực xã hội hóa và bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên. Ban Giám hiệu kết hợp với Ban Đại diện Cha mẹ học sinh và mời các nghệ sĩ thuộc đoàn ca kịch địa phương tham gia tập huấn. Mục tiêu là đạt 100% giáo viên đứng lớp được trang bị kỹ năng hướng dẫn học sinh hát dân ca, đồng thời trang bị bổ sung ít nhất 10 bộ nhạc cụ gõ dân tộc cho phòng học nghệ thuật trước quý 3 hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất là Ban Giám hiệu và Cán bộ quản lý tại các trường tiểu học. Công trình cung cấp căn cứ thực tiễn và khung kế hoạch mẫu để lãnh đạo nhà trường phê duyệt ngân sách, phân bổ thời lượng và chỉ đạo tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với giáo dục di sản văn hóa truyền thống.

Thứ hai là Giáo viên bộ môn Âm nhạc và Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong. Luận văn cung cấp tuyển tập các làn điệu hát ru, hò, lý, đồng dao phù hợp với âm vực lứa tuổi 6 đến 11 tuổi, kèm theo các kịch bản trò chơi dân gian có thể áp dụng ngay trong các buổi sinh hoạt dưới cờ hoặc hoạt động tập thể cuối tuần.

Thứ ba là Sinh viên, Học viên cao học và Giảng viên thuộc các ngành Giáo dục Tiểu học, Sư phạm Âm nhạc. Luận văn là tài liệu tham khảo chất lượng về quy trình thiết kế công cụ khảo sát anket, phương pháp thống kê mô tả trong giáo dục học và kỹ thuật tổ chức thực nghiệm sư phạm trên địa bàn cụ thể.

Thứ tư là Chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian địa phương. Tài liệu này đóng vai trò như một bản tham luận thực tiễn giúp cơ quan quản lý hoạch định chính sách đưa di sản bài chòi, dân ca liên khu 5 vào chương trình giáo dục địa phương một cách bài bản, đạt hiệu quả lan tỏa cao trên toàn tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao nên đưa dân ca vào hoạt động ngoại khóa thay vì chỉ dạy trong tiết học chính khóa? Hoạt động chính khóa bị giới hạn nghiêm ngặt về thời lượng (35 đến 40 phút mỗi tiết) và nặng tính lý thuyết nhạc lý. Hoạt động ngoại khóa tạo không gian mở không gò bó, kết hợp 96.9% sự yêu thích trò chơi dân gian với âm nhạc, giúp học sinh thẩm thấu giai điệu một cách tự nhiên theo đúng tinh thần học mà chơi, chơi mà học.

  2. Những thể loại dân ca nào phù hợp nhất với đặc điểm giọng hát của học sinh tiểu học? Hát đồng dao, bài vè và các điệu lý ngắn, vui tươi là phù hợp nhất. Do tầm cử giọng hát của học sinh tiểu học chỉ dao động từ nốt La quãng tám nhỏ đến nốt Si giáng quãng tám 1, các bài đồng dao có tiết tấu nhịp đôi khỏe khoắn giúp các em dễ phát âm, không bị hụt hơi hay vỡ giọng.

  3. Nhà trường cần làm gì để giải quyết rào cản 70% giáo viên gặp khó khăn về kinh phí tổ chức? Nhà trường nên đẩy mạnh mô hình phối hợp ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội. Việc liên kết với các nghệ nhân dân gian địa phương, tận dụng sân trường và tự tạo đạo cụ trò chơi từ vật liệu tái chế sẽ giúp tiết kiệm tối đa chi phí tổ chức hoạt động ngoại khóa.

  4. Làm thế nào để học sinh hứng thú học dân ca trong thời đại số bùng nổ mạng xã hội? Giáo viên cần đổi mới phương pháp bằng cách sân khấu hóa các làn điệu, tổ chức thi đối đáp âm nhạc, hô hát bài chòi có thưởng hoặc ghi hình các video đồng ca đăng tải lên trang mạng của trường. Cách làm trực quan này nhanh chóng chuyển hóa sự tò mò của 76.9% học sinh thành đam mê văn hóa truyền thống.

  5. Việc lồng ghép dân ca vào ngoại khóa có gây ảnh hưởng đến kết quả học các môn văn hóa không? Hoàn toàn không. Trái lại, việc tham gia các trò chơi âm nhạc dân gian sau giờ học giúp giải tỏa 100% căng thẳng thần kinh, rèn luyện sự nhanh nhẹn, tinh thần tập thể và khả năng tập trung, từ đó tạo tâm thế hưng phấn giúp các em tiếp thu các môn khoa học và văn hóa tốt hơn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về vai trò của dân ca trong việc bồi dưỡng tâm hồn, đạo đức và giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học.
  • Đề tài phản ánh trung thực thực trạng tại Trường Tiểu học Trần Quốc Toản, chỉ ra điểm nghẽn lớn khi 80% giáo viên coi trọng việc đưa dân ca vào trường học nhưng 30% chưa từng triển khai do thiếu kinh phí và kỹ năng.
  • Công trình khẳng định tiềm năng to lớn từ phía học sinh khi có tới 96.9% trẻ yêu thích trò chơi dân gian và 69.2% sẵn sàng học hát dân ca nếu có môi trường thuận lợi.
  • Đề tài đã đóng góp hệ thống 4 giải pháp sư phạm mang tính thực tiễn cao, kết nối nghệ thuật diễn xướng dân ca bài chòi Quảng Nam với các sân chơi ngoại khóa sinh động.
  • Trong kế hoạch tiếp theo từ tháng 9 tới, nhà trường và các đơn vị giáo dục cần nhân rộng mô hình câu lạc bộ dân ca, xây dựng cẩm nang số hóa bài giảng và tăng cường phối hợp liên ngành.

Việc đưa dân ca vào trường học chính là chìa khóa vàng để gìn giữ hồn cốt dân tộc trong thời kỳ hội nhập. Kính mời quý thầy cô giáo, các nhà quản lý và bạn đọc quan tâm tải về, nghiên cứu và ứng dụng toàn diện các giải pháp sư phạm từ luận văn này.