CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC ĐƯA DÂN CA VÀO TRONG HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Một số khái niệm 1. Dân ca Dân ca giữ một vị trí quan trọng và mang tính chất phổ biến trong đời sống tỉnh thần cũng như trong lao động, sinh hoạt hằng ngày của nhân dân. Khởi đầu, các bài đân ca được sáng tạo một cách tự phát nhưng luôn gắn với một mục đích, đối tượng nhất định.
Sau đây là một số khái niệm cụ thể về đân ca của một số tác giả đưa ra: Theo GS.TS Trần Quang Hải làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học về Sơ lược về dân ca Việt Nam: “Dan ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào. Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người từ đời này qua đời khác và được phể biến ở từng vùng, từng dân tộc. Các bài dân ca được gọt giữa, sàng lọc qua nhiều năm tháng và bền vững với thời gian”. Theo Phạm Phúc Minh: “Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được nhân dân ca hát theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc”.
Cùng với khái niệm về dân ca của các tác giả khác, ta có thể hiểu dan ca là những bài hát do nhân dân sáng tác, không rõ tác giả, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác theo lối truyền khẩu, được hát theo phong tục tập quán từng địa phương và có nhiều dị bản. Hoạt động ngoại khóa Hoạt động ngoại khóa là những hoạt động được thực hiện ngoài giờ học, tuỷ thuộc vào hứng thú, sở thích, nguyện vọng của mỗi học sinh trong khuôn khổ khả năng và điều kiện tổ chức có được của nhà trường. Hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm bổ sung, củng cố, mở rộng và nâng cao kiến thức, kĩ năng bộ môn đã học trong chương trình chính khóa, đồng thời gióa dục học sinh một cách toàn diện. Đặc điểm của đân ca Việt Nam 1.
Đặc điển về hình thúc, thể loại Dân ca phản ánh cuộc sống muôn mầu muôn vẽ của nhân dân niên nội dung, hình thức của dân ca rất phong phú, da dang. Chúng ta có thể tìm thấy trong nhiều nên văn hoá những bài đân ca nói về cuộc sống của người bình đân bằng một thứ ngôn ngữ giàu chất trí tuệ, sống động. Dân ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền, qua con đường truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. 'Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc với nền văn hóa lâu đời, do vậy dân ca Việt Nam bao gồm nhiều vùng miễn, nhiều thể loại vô cùng phong phú: dân ca Quan họ Bắc Ninh, hát Ví, hát Dặm (Nghệ An).
hát Xoan (Phú Thọ), hát Trống quân ở nhiều làng quê Bắc Bộ, hát Dé (Ha Tây), hò Huế, lý Huế ở TrưngBộ, Nam Bộ có các điệu Lý, điệu Hò. dân ca của các dan tộc miền núi phía Bắc, đồng bào Thái, H'mông, Mường, dân ca các dân tộc Tây nguyên. đều có những nét riêng, mang ban sắc riêng. Để giảm bớt nỗi cực nhọc và tăng thêm hiệu quả trong lao động, người Việt Nam còn sáng tạo ra những điệu hò, điệu lý, hát ví.
những âm điệu tiết tấu, đặc trưng của dân ca phần lớn bắt nguồn từ những câu ca dao thâm thúy khúc chiết, loại thơ vần như lục bát hay những câu đồng dao đơn giản được bể sưng qua nhiều giai đoạn rồi trở nên những thể loại hát dân gian khác nhau của từng địa phương, từng vùng đất nước.Sự da dang này bắt nguồn từ sự khác biệt về độ tuổi, về vùng miền địa lý, về ngôn ngữ, tập quán sinh hoạt, lao động và bản sắc từng dân tộc. Dân ca Việt Nam rất phong phú về thể loại. Sự đa đạng bắt nguồn từ sự khác nhau về độ tuổi, về vùng miền địa lý, về ngôn ngữ, về tập quán sinh hoạt, lao động và bản sắc từng dân tộc. - Về độ tuổi: Dân ca dường như có mặt trong suốt chặng đường đời từ lúc lọt long cho tới khi trở về với đất.
Khi còn nhỏ, trẻ được mẹ, bà âu yếm bằng những khúc hát ru. Đến tuổi thiếu nhỉ, trẻ vừa chơi vừa hát những bài đồng đao. Lúc trưởng thành nam nữ tìm hiểu nhau qua những khúc hát giao duyên, hát lí, hát ghẹo.Sau đó những điệu hò trong lao động, những bài hát nghỉ lễ như sắc bùa, bã trạo để cúng thần linh và khi tiến đưa người về bên kia thế giới người ta có hò đưa linh hoặc những bài hát khóc, hát kể. - Về sắc tộc: Việt Nam là quốc gia có đa dân tộc, bao gồm trên 50 dan tộc khác nhau, trong đó mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, những làn điệu đân ca riêng.
Chẳng hạn, người Mường có lối hát Rang khi đi chăn trâu, hát củi, dệt vải.Người Tày có lối hát Lượn lúc nhàn rỗi, trong những đêm trăng hay trong nhưng phiên chợ. - Về vùng miền dân cư: Lãnh thể Việt Nam trải dài từ Lạng Sơn đến Cà Mau, trong đó mỗi vùng miền có đặc điểm về song núi, địa hình khí hậu khác biệt nhau. Từ đó, dân cư trong mỗi vùng miền lại có những tập quán sinh hoạt, thể âm, thổ ngữ mang bản sắc riêng và do vậy dân ca trong từng địa phương cũng có những thể loại khác nhau. Nếu ở miền Bắc các thể loại dân ca thường mang đặc điểm lễ hội như hát Quan họ, châu văn, hát trống quân, hát xoan thì ở Miễn trưng và Nam bộ lại giàu các thể loại hò, lý, ví, dặm.
- Vé tap quan lao động: Dân ca Việt Nam bắt nguồn từ nền kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, mỗi ngành nghề, mỗi hoạt động lao động có những đặc điểm riêng. Do đó, các thể loại đân ca cũng phát sinh từ những nhịp điệu ấy. Chẳng hạn trong nông nghiệp có các điệu hò: Hò ba lý, hò tát nước, hò xay lúa, hò giã gạo.Trong tiểu thủ công nghiệp có các điệu ví như: ví phường nón, ví phường vải, trong công việc sông nước thì có các điệu hd: hò chèo thuyền, hồ mái nhì, hò đầy, hò kéo lưới, hò giật chì. Đặc điễn về nội dung Dân ca là sản phẩm tỉnh thần của con người lao động sống giữa cộng đồng dân cư, cho nên nội dung chủ yếu của dân ca là phản ánh đời sống lao động, phản ánh những mối quan hệ giao tiếp trong cộng đồng, đồng thời nói lên những tình cảm gắn bó giữa con người với thiên nhiên, với quê hương làng mạc và giữa người với người.
Trong dân ca, giai điệu phải tuân thủ các quy luật về điệu thức, hoà âm, nhịp điệu và giữ vai trò quyết định cho giá trị của các làn điệu dân ca. Lời ca, âm điệu, nhịp điệu của những bài hát này thường được gắn liền với tính chất công việc lao động, trong tâm tư, tình cảm. Vi dân ca là sản phẩm tỉnh thần của người lao động sống giữa cộng đồng dan cư, cho nên nội dung chủ yếu của dân ca là phản ánh đời sống lao động, phản ánh những mối quan hệ giao tiếp trong cộng đồng đồng thời nói lên những tình cảm gắn bó giữa con người với thiên nhiên, với quê hương làng mạc và gữa người với người. Có thể nói dan ca là tắm gương phản chiếu tâm hồn, tính cách và cuộc sống của con người Việt Nam.
Chính vì thế, dân ca mang những đặc điểm về nội dung như sau: - Dân ca phản ánh cuộc sống lao động Dé giảm bớt nỗi nhọc nhằn và tăng thêm hiệu quả trong lao động, người Việt Nam sáng tạo ra các điệu hò, điệu lí, hát ví, hát dặm.lời ca, âm điệu, nhịp điệu của những bài hát này thường gắn liền với tính chất của công việc như Hò giã vôi, hồ chèo thuyền. - Dân ca phản ánh quan hệ cộng đồng Bao gồm các mối quan hệ trong gia đình và quan hệ xã hội, chứng ta có những bài hát ru để nói lên tình mẹ con, lí vọng phu để nói về long chưng thủy, những bài hát giao duyên đề trai gái trao đổi, gửi gắm tình cảm cho nhau. - Dân ca phản ánh tâm tr tình cảm Có thể nói, tình cảm là chủ đề phổ biến nhất trong dân ca Việt Nam, trong đó có tình cảm đối với thiên nhiên, quê hương, làng mạc như những bài i/ hoài nam, Nam ai, Nam bình, hò mới nhì, mới đẩy trong dan ca Hué hoặc trong các bài Về Quảng như hò bơi thuyền, nói thơ Bạc Liêu. Phong phú nhất là những bài dân ca nói về tình yêu trai gái, chẳng hạn như: Lý qua cầu, Tí thương nhan.
Phê biến hơn cả là thể loại hát giao duyên, còn gọi là hát nhân ngãi hay hát huê tình Ví dụ: Chừm xa rừng thương cây nhớ cội Người xa người tội lắm ai oi Chẳng thà không biết thì thôi Biết nhau rồi mỗi đứa một nơi cũng buôn Ngoài ra dân ca cũng nói lên những ước vọng của người lao động về một cuộc sống thanh bình, no đủ Đi cấy dân ca Thanh Hóa Lên chùa bê mộỘt cành sen .Ăn cơm bằng đền đi cấy sáng trăng Ba bốn cô có bạn cùng chăng có hẹn cùng chăng Thấp đèn la sẽ chơi trăng ngoài thềm Ý rằng cầu cho Câu cho trong ấm êm, êm lại ngoài êm 1. Các thể loại dân ca Việt Nam phố biến 1. Hát ru Là một thể loại rất phổ biến trong cả nước. Mỗi vùng miền, mỗi dân tộc đều có những làn điệu hát ru riêng biệt nhưng đều có chung một đặc điểm là nhịp điệu khoan thai, dịu dàng, tiết tấu ay do; âm điệu ngân nga, êm đềm, thể hiện tình yêu thương của người mẹ, người chị, người bà đối với trẻ thơ.
Nội dung lời ca của hát ru thường mộc mạc, đầm thắm, xen lẫn những tiếng đệm đưa hơi. Tuy nhiên, nhiều khi lời ca không chỉ nói về tình mẫu tử. Bên vành nôi ru trẻ, người hát có thể liên tưởng, cảm thán về cuộc đời, về thế thái nhân tình hoặc gửi gắm tình cảm của minh vé mét đối tượng nào đó. Vi dy: Ru con- Dân ca Nam bộ (Dân ca VN, tr 149) Gió mùa thu mẹ ru (mà) con(0) ngủ Năm.) canh chày, thức đủ vừa(a)năm Hối chàng chàng ơi, hỡi người người(©) ơi! Em nhớ tới chàng.
Vi dy: Ru con ( Đân ca Quảng Nam, Ty VHTT Quảng Nam 1981) À. ơ chiều chiều lại nhớ chiều chiều Nhớ người quân tử ơ.