CHƯƠNG 1. NHUNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG CUA VIEC DAY HOC THEO HUONG TICH HOP 1. Tích hợp và nguyên tắc tích hợp Tích hợp là một cách tiếp cận khoa học, tích hợp ban đầu có các tên gọi là: Liên hệ (Permeation), Kết hợp (Combination), Phối hợp (Coordination), Tích hợp (Intergration). Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu mội cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hoá dưa tới một dối tượng mới như là một thẻ thống nhất trên những nét bản chất nhất dịnh của các thành phần dối tượng, chứ không phải là một phép cộng đơn giản các thuộc tính của thành phần.
Không thể gọi là tích hợp nếu các trí thức, kĩ năng chỉ được thụ dắc, tác dộng một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phổi hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung trí thức hay giải quyết một vấn đề, tình huỗng. Khóa luận lấy quan điểm nay làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm. Như vậy, tích hợp là hợp lại để thống nhất các mặt riêng lẻ thành một tổng ể, phối hợp tối ưu các hoạt động dạy học khác nhau, các kĩ năng phương pháp của môn học khác nhau nhằm đáp ứng mục tiêu mục đích cụ thể, theo một nguyên tắc “đồng tâm”, “đồng quy” hướng tới một nội dung bao trùm cao hon, sâu hơn, kĩ năng kiến thức của các lớp học, bậc học khác nhau nhưng cao hơn. Tích hợp là một phạm trù rất rộng, giữa kiến thức và thực hành, giữa kiến thức với kĩ năng, giữa kinh nghiệm với thực tiễn.
tích hợp theo chiều ngang _ đọc, xa_ gần, trong ngoài được phối hợp nhuần nhuyễn, thống nhất với nhau. Tích hợp đòi hỏi sự vận động của các thao tác, biện pháp dạy học một cách khéo léo, linh hoạt mới đạt được mục tiêu dạy và học theo hướng tích cực. Trong dạy học, tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị bài học, thậm chí một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập. Quan điểm day hoc tich hợp kiến thức đã được nhiều nhà giáo dục ngiên cứu và nhận thấy ý nghĩa thiết thực của nó trong nên giáo dục của xã hội hiện nay.
wn “Trong xu thể toàn câu hóa hiện nay, nền giáo dục cần có những điều chỉnh và thay đổi kịp thời để đáp ứng những yêu cầu của việc đào tạo những con người trong xã hội mới. Sự điều chỉnh và thay đổi này trọng tâm là làm thế nào trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, những kĩ năng và năng lực tư duy cần thiết để vận dụng linh hoạt vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống. Hơn nữa kiến thức mà học sinh học ở các cấp học luôn có sự liên kết và ngày càng mở. rong, dao sau.
Kiến thức ở bậc học trước là cơ sở để tỉ ép thu ở bậc học tiếp theo. Do vậy việc tích hợp trong day học giúp học sinh biết liên kết các mảng kiến thức và kĩ năng gần nhau để tìm lý giái cho một vấn đề mới, theo đó dạy học tích hợp cũng giúp học sinh phát triển kĩ năng tự học. Quan điểm tích hợp trong dạy học thường thể hiện ở các khía cạnh sau: Tích hợp nhiều kĩ năng trong một môn học. Tích hợp kiến thức các môn học khác qua môn học đang đạy.
Tích hợp chương trình chính khóa và ngoại khóa. Tích hợp kiến thức lý thuyết và thực tiễn. Tích hợp những kiến thức kĩ năng thái độ cần được dạy trong tất cả các môn học. Với những khía cạnh trên, dạy học theo phương pháp mới đã đảm bao được nguyên tắc tích hợp trong hoạt động dạy học, nó dòi hỏi sự dầu tư của giáo viên cho mỗi bài dạy, không chỉ về kiến thức, về phương pháp mà còn cả về hoạt động tìm hiểu học sinh.
trong quá trình học tập, học sinh cần dược rèn luyện, phát triển năng lực tư duy để luôn biết cách giải quyết các tình huống nảy sinh trong học tập cũng như trong cuộc sống sau này. Học sinh sé mo rong được kiến thức qua các câu hỏi như “tại sao?", “như thế nào?”, có tác dụng gì?”, “nó có biểu hiện như thế nào trong thực Ãhư vậy qua việc dạy học tích hợp, học sinh vừa được học cách tư duy vừa được trang bị thêm kiến thức mới, đồng thời cảm thấy hứng thú hơn để có thể tiếp tục tìm hiểu sâu vẻ kiến thức ấy. Tích hợp trong bộ môn Ngữ văn Cũng như các môn học khác, việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT chẳng những dựa trên cơ sở các môi liên hệ về lí luận và thực tiễn được dé cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật. mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xoá bỏ lối day học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thể giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bỗ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này.
đó làlối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn”, biệt lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có quan hệ gần gũi về bản chất, nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu, đủ cho phép phối hợp, liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả vẻ lí luận và thực tiễn, đem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình huống tích hợp hoặc những vấn đề thuộc từng phân môn. Van dung quan diém tich hop trong day học Ngữ văn là cách thức để khắc phục, hạn chế lối dạy học đó nhằm nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức và kĩ năng mà học sinh lĩnh hội dược, bảo đảm cho mỗi em khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống bat ngờ, chưa từng gặp. Mặt khác, tránh được những nội dung, kiến thức và kĩ năng trùng lặp, đồng thời lĩnh hội những nội dung, tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng rẽ sẽ không có được. Dạy học Ngữ văn theo định hướng tích hợp vẫn theo đuổi quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm”, tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, mọi khâu của quá trình dạy học, tìm mọi cách phát huy năng lực tự học, năng lực sáng tạo của học sinh.
Do vậy, việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp đạy học cần chú ý bảo đảm các yêu cầu sau: ~ Giúp học sinh tích hợp các kiến thức và kĩ năng đã lĩnh hội, xác lập mối liên hệ giữa các trí thức và kĩ năng thuộc các phân môn đã học bằng cách tổ chức, thiết kế các nội dung, tình huống tích hợp để học sinh vận dụng phối hợp các trí thức và kĩ năng riêng rẽ của các phân môn vào giải quyết van dé dat ra, qua đỏ lĩnh hội các kiến thức và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp. ~ Tổ chức, thiết kế các hoạt động phức hợp để học sinh học cách sử dụng, phối hợp những kiến thức và kĩ năng đã thụ đắc trong “nội bộ các phân môn”. - Đặt học sinh vào trung tâm của quá trình đạy học để các em trực tiếp tham gia vào giải quyết các vấn đề, tình huống tích hợp; biến quá trình truyền thụ trí thức thành quá trình tự ý thức về cách thức chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng. - Phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh, chú trọng mồi quan hệ giữa học sinh với SGK; phải buộc học sinh chủ động tự đọc, tự làm việc độc lập theo SGK, theo hướng dẫn của giáo viên.
Bên cạnh việc đổi mới phương pháp dạy dỗng nghĩa cũng phải thay dỗi thiết kế bài dạy. Thiết kế bài dạy học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp không chỉ chú trọng nội dung kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thống việc làm, thao tác tương ứng nhằm tỏ chức, dẫn dắt học sinh từng bước thực hiện để chiếm lĩnh đối tượng học tập, nội dung môn học, đồng thời hình thành và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp, tránh áp đặt một cách làm duy nhất, Giờ học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp phải là một giờ học hoạt động phức hợp đôi hỏi sự tích hợp các kĩ năng, năng lực liên môn để giải quyết nội dung tích hợp, chứ không phải sự tác dộng các hoạt dộng, kĩ năng riêng rẽ lên một nội dung riêng rẽ thuộc “nội bộ phân môn”. Như vậy việc đổi mới lay dạy hoe theo quan điểm tích hợp là một như cầu tất yếu. Tuy nhiên việc đổi mới này cần phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể đối với quá trình dạy học.
Yêu cầu của việc dạy học tích hợp Các yêu cầu của dạy học theo hướng tích hợp déu nhằm hướng tới người học. Trong khóa luận này, chúng tôi chủ yếu tập trung vào yêu cầu của việc dạy học tích hợp môn Ngữ văn ở trường THPT dựa trên yêu cầu của các môn học nói chung.1, Đối với chương trình SGK Thực hiện dạy học chương trình SGK theo phương pháp mới là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Một trong những nguyên tắc chỉ đạo khi xây dựng chương trình SGK theo hướng tích hợp là: chương trình SGK phô thông phải là công trình khoa học sư phạm trong đó phải lựa chọn được các nội dung cơ bản, phổ thông, cập nhật được các tiễn bộ mới của khoa học công nghệ, của kinh tế - xã hội, gần gũi với đời sống và phù hợp với trình dộ nhận thức của học sinh trong ting giai đoạn học tập, gắn bó với thực tế phát triển của đất nước, tích hợp nhiều mặt giáo dục trong từng nội dung, nâng cao chất lượng hoạt động thực hành, vận dụng theo năng lực từng dối tượng học sinh. Chương trình SGK là nơi tích hợp nhiều kiến thức cơ bản mà giáo viên và học sinh phải tiếp thu.
Nội dung trong SGK phải có những đặc trưng riêng, vừa mang tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật, lại là công cụ để khám phá cái hay, cái đẹp của nội dung bài học.