mở đầu của công cuộc cải nền kinh tế ở Trung Quốc, sản lượng lương thực của nước này không ngừng gia tăng. Nguyên nhân cơ bản được khẳng định là nhờ chính sách cải cách trong nông nghiệp, việc áp dụng chế độ khoán sản phẩm cho từng hộ gia đình đã làm tăng năng suất và sản lượng lương thực. Năng suất lúa trong suốt thời kỳ 1984 - 1999 tại Trung Quốc thuộc vào loại cao của thế giới, đạt trung bình 5. Sản lượng lúa gạo của Trung Quốc hiện nay đạt khoảng 190 triệu tấn/năm.
Ấn Độ : Nước sản xuất lúa gạo đứng hàng thứ hai thế giới, sau Trung Quốc , chiếm từ 17 - 20% sản lượng lúa gạo thế giới. Năm 1999/2000 nước này đạt trên 134 triệu tấn. Sở di nhiều thập ky qua, Ấn Độ phát triển sản lượng lúa là do áp dụng tiến bộ kỹ thuật canh tác mới. Indonsia: Sản lượng lúa gạo của Indonesia gia tăng liên tục từ năm 1980 với ty lệ không cao nhưng nhịp tăng tương đối đều.
Đến năm 1984 với sản lượng dat trên 37 triệu tấn, lần đầu tiên Indonesia đã tự túc được lương thực, nhưng từ đó họ phải luôn nỗ lực để theo kịp với sự gia tăng dân số (hiện vào khoảng gần 200 triêu người). Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán, lũ lụt, sản xuất lúa gạo trong nước vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu. Từ những năm đầu của thập kỷ 90 cho đến nay, hàng năm Indonesia sản xuất 52 triệu tấn nhưng vẫn phải nhập khoảng 1,5 - 1,6 triệu tấn gạo. Bangladesh : Sản lượng lúa gạo ít biến động trong suốt giai đoạn 1980 - 1984, hàng năm đạt khoảng 21 triệu tấn, vào năm 1985 bắt đầu gia tăng đạt trên 23 triệu tấn do kết quả của ciệc sử dụng giống lúa có năng suất cao và áp dụng chế độ phân bón hợp lý.
Đến nay sản lượng dao động khoảng 28 - 32 triệu tấn/năm. Thái Lan: Sản lượng lúa của Thái Lan hiện nay đạt khoảng 25 - 26 triệu tấn/năm. Nhờ điều kiện thiên nhiên thuận lợi nên Thái Lan được coi là có lợi thế và là một vựa lúa lớn xuất khẩu ra thị trường thế giới, giữ vị trí hàng đầu về xuất khẩu gạo trong nhiều thập kỷ qua. Quá trình phát triển xuất khẩu gạo của Thái Lan có thể chia thành hai giai đoạn: - Giai đoạn trước chiến tranh thế giới lần thứ II : Xuất khẩu gạo là xương sống của nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Xuất khẩu gạo là nguồn thu nhập chính và tăng với nhịp độ rất nhanh. Sự tăng trưởng nhanh của nông nghiệp lúa gạo hoàn toàn dựa trên sự gia tăng diện tích trồng trọt. - Giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ II: Từ những năm 1960 "Cách mạng xanh" trong nông nghiệp đã được thực hiện ở nhiều vùng với việc triển khai kỹ thuật và phương pháp canh tác mới; sản xuất và nhập phân bón, thuốc trừ sâu và máy nông nghiệp; phát triển thuỷ lợi và cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp. Từ năm 1981, Thái Lan là nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới.
- Khi xã hội nông nghiệp truyền thống của Thái Lan nhường chỗ cho xã hội công nghiệp, gạo không còn là nguồn xuất khẩu thu ngoại tệ quan trọng, nhưngcác sản phẩm của nông nghiệp, đặc biệt là gạo vẫn đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế, xã hội và văn hoá của Thái Lan, Chính phủ luôn có những chính sách và chiến lược ưu tiên phát triển. Nhật Bản: Diện tích trồng lúa đạt hơn 2 triệu ha với sản lượng hàng năm từ 11 - 12 triệu tấn, cá biệt, niên vụ 1994/1995 lên tới 14,98 triệu tấn. Với sản lượng này Nhật có thể tự túc 100% nhu cầu tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên giá thành lúa gạo của Nhật khá cao, (gấp 3-4 lần giá thế giới), người nông dân Nhật vẫn trồng lúa được là nhờ chính sách trợ giá của Chính phủ.
Từ năm 1997 đến nay sản lượng lúa của Nhật chỉ dao động từ 11 - 12 triệu tấn, nên hàng năm nước này phải nhập thêm khoảng 0,7 triệu tấn để cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước. Philippines: Trong 20 năm qua Philippines đã cố gắng nâng cao năng suất lúa bằng những biện pháp như : Khôi phục và cải tạo hệ thống thuỷ lợi, hạ thấp giá thành phân bón và trợ cấp cho việc nhập phân bón, chống thất thoát sản lượng sau thu hoạch, tăng cường cấp tín dụng cho nông dân, nên sản lượng lúa gạo đã tăng lên, thường xuyên đạt mức từ 10 - 12 triệu tấn/năm - Có thể nhận rõ tầm quan trọng và vị thế của các cường quốc sản xuất lúa gạo qua bảng sau: Bảng 2: Tỷ trọng của các nước trong tổng sản lượng lương thực trên thế giới Đơn vị : % Q 30W 1997 š #lš=| »s _ 1. Trung Quốc | 35,34 | 33,72 | 32,55 | 33,60 šG3) gee ~¬ w a i) _ > dO — +>hs) N — \o Ww œ 8 Nœ Ty = oo © œ + ` fon a |¬aa|D x in= — sak[omco;LO |—~ ) baaBek5 lào œ œ Ww~ 2| |e oo BRaeodsrONoY} leius6=|S NS BSS to wo 10.18 | 0,2 © t2 | >) —_ oo œ -~=‡¡ Gò oO ¬ +> Nguồn : Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA), Thị trường 1997. b- Về tình hình tiêu thụ gạo trên thế giới: Tiêu thụ (tiêu dùng) gạo của thế giới tăng mạnh trong gần một thập kỷ qua: năm 1993 toàn thế giới tiêu thụ 359 triệu tấn, năm 1996 là 376,5 triệu tấn, năm 1997 là 379 triệu tấn, năm 1999 là 389 triệu tấn.
Tiêu thụ gạo của thế giới năm 2001 ước đạt 403,54 triệu tấn, tăng so với 403,33 triệu tấn năm 2000 (theo USDA). Tuy nhiên, dự trữ gạo ở các nước sản xuất cũng như nhập khẩu sẽ vẫn cao, hạn chế xu hướng tăng mậu dịch gạo. Những nước sản xuất nhiều nhất cũng là những nước có lượng tiêu thụ lớn nhất. Trung Quốc tiêu thụ 35,25% lượng gạo tiêu thụ toàn cầu, Ấn Độ tiêu thụ 21,12%, Inđônêxia 9,12%.
Năm 2000, các nước có mức tiêu thụ trên 8 triệu tấn là Trung Quốc: 138 triệu tấn, Ấn Độ: 82,5 triệu tấn, Inđônêxia: 35,7 triệu tấn, Bangladesh: 21,1 triệu tấn, Việt Nam: 15,8 triệu tấn, Nhật: 9,1 triệu tấn, Braxin: 8,3 triệu tấn, và Philippin: 8,4 triệu tấn. Bảng 3: Tỷ trọng của một số nước trong tổng mức tiêu thụ gạo thế giới Đơn vị : % Ym [| a 35,67 | 3513 35,25 2. Thái lan 237 | nN 2, N 5 › 2,30 t» 4L | nN 237 241 219 `© | No 246 2. Các nước khác nhau, thị hiếu tiêu dùng gạo cũng khác nhau.
Những nước có mức tiêu thụ gạo bình quân đầu người khá cao như Việt Nam, Inđônêxia, Myanma, Malaysia, Thái Lan, Bangladesh từ 150-190 kg/người/năm và gạo chiếm khoảng 90% mức tiêu dùng lương thực. Ở Trung Đông mức tiêu thụ bình quân năm trên 30 kg, Châu Phi trên 20 kg. Mức tiêu thụ gạo bình quân đầu người ở các nước và các khu vực trên thế giới trước tiên tuỳ thuộc vào truyền thống tiêu dùng lương thực, thu nhập, khả năng thanh toán và giá cả. Do đó, ở một số quốc gia tuy lúa gạo là lương thực chính, nhưng chủ yếu do thu nhập thấp, chưa đủ khả năng thanh toán cho nhu cầu tiêu dùng gạo, nên phải dùng các loại ngũ cốc thô khác.
Theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia ADB, ở Srilanca, khi thu nhập tăng 1% thì nhu cầu gạo tăng 0.5%, Ở Ấn Độ là 1% và 0,65%, ở Braxin là 1% và 0,4%. Ngược lại, ở các nước có nền kinh tế phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaixia, Singapore, Thái Lan, mặc dù thu nhập có tăng nhưng nhu cầu tiêu dùng lúa gạo lại giảm do cơ cấu bữa ăn có sự thay đổi.Tình hình xuất nhập khẩu gạo trên thế giới: Thị trường gạo thế giới có thể chia làm 4 giai đoạn với các đặc điểm sau: 1/Giai đoạn hình thành thi trường gao quốc tế cho đến đầu những năm 70: - Nguồn cung cấp về gạo hầu như hoàn toàn từ Châu Á, trong đó 4 nước xuất khẩu chủ yếu là Myanmar, Thái Lan, Đông Dương và Triều Tiên. - Nhu cầu tiêu dùng gạo cũng tập trung chủ yếu ở Châu á, chiếm tới 3/4 lượng cầu thế giới. Phần còn lại dùng để trao đổi và buôn bán giữa Châu Âu với các thuộc địa.
- Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Mỹ và Achentina đảm đương vai trò làm chủ trong lĩnh vực gạo xuất nhập khẩu gạo và Châu Âu, Châu Mỹ đã dân trở thành nước cung cấp gạo quan trọng nhất trên thị trường thế giới cho dù không hẳn là nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. 2/Giai đoan của thâp niên 70: - Thu thập tăng cao ở Trung Cận Đông nhờ giá dau tăng dẫn tới nhu cầu tiêu thụ gạo tăng và tăng nhanh lượng gạo nhập khẩu của khu vựcnày. - Tại các nước Châu Phi, nên kinh tế gặp khó khăn, nông nghiệp suy giảm, buộc lục địa này phải nhập khẩu gạo nhiều hơn trước, nhưng khả năng thanh toán lại rất hạn chế, phải dua vào các khoản việc trợ của các nước Châu Âu. - Tại các nước Châu Á, gạo đã tự túc được nên lượng gạo nhập khẩu giảm đi nhiều.
Trên thị trường xuất hiện gạo của Pakistan. -10- - Trên thị trường gạo thế giới, vai trò của các công ty môi giới trở nên hết sức quan trọng: là “con thoi" dệt nên mối liên hệ tay ba giữa người trả tiền là các nước Tây Âu, còn người bán là các nước Châu Á và Châu Mỹ. 3/Giai đoạn của thập niên 80: - Xuất hiện nhiều công ty trẻ, đánh dấu sự phá vỡ những hội kín và tính khép kín của kinh doanh lúa gạo trên thị trường quốc tế. - Các công ty Mỹ tìm mọi cách duy trì thị trường Châu Phi, tăng cường sức mạnh của nguồn cung cấp gạo từ Mỹ.
Với chiến thuật: dùng gạo nhằm chi phối nhiều nước trên thế giới, Chính phủ Mỹ đã trợ giá cho các Công ty Mỹ để mua gạo Mỹ với giá cao nhưng bán với giá thấp hơn nhiều, một mặt nâng đỡ những nhà sản xuất ở Mỹ, một mặt ràng buộc các nước mua gạo Mỹ với Chính phủ Mỹ. - Cuộc cạnh tranh giữa các công ty môi giới trở nên hết sức gay gắt vì lượng gạo lưu thông không tăng mà người buôn bán lại tăng. Nhiều công ty lớn đã phải giã từ thị trường gạo, nhưng một số công ty cũng trở nên mạnh hơn cũng như xuát hiện thêm một số công ty trẻ đầy năng động.