Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. XƠ GAN: NGUYÊN NHÂN, NHỮNG BIẾN ĐỔI HỆ THỐNG,LÂM SÀNG VÀ BIẾN CHỨNG. Khái quát về xơ gan. Xơ gan là một tình trạng suy chức năng gan tiến triển do tế bào gan bị tổn thương không hồi phục.
Tổn thương này được đặc trưng bởi sự thay thế mô gan bình thường bằng mô sẹo, dẫn đến quá trình xơ hóa lan tỏa và hình thành các khối tăng sinh (nodules) trong gan. Hậu quả cuối cùng đưa đến tình trạng xơ gan mất bù [2],[1]. Một phân tích có hệ thống về “Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu năm 2015” cho thấy: Xơ gan chiếm khoảng 2,8 triệu người và kết quả là 1,3 triệu người chết vào năm 2015[14],[15]. Ở Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 35.000 ca tử vong do xơ gan và các bệnh gan mạn tính[1].
Theo thống kê của TCYTTG - WHO, Việt Nam là nước có tỷ lệ người dân mắc bệnh xơ gan khá cao, chiếm 5% dân số. Trong đó, xơ gan do virus chiếm trên 40% và xơ gan do rượu bia khoảng 18%. Số ca tử vong về xơ gan ở Việt Nam chiếm đến 3% trong tổng số ca tử vong do bệnh tật gây ra và trong số các nguyên nhân dẫn đến xơ gan, viêm gan do virus và viêm gan do rượu được coi là hai nguyên nhân hàng đầu. Trong khi đó, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tỉ lệ người nhiễm virut viêm gan tương đối cao (khoảng 10% – 20% dân số nhiễm virus viêm gan B và 9,4% nhiễm virut viêm gan C) cho thấy xơ gan thật sự là vấn đề sức khỏe đáng báo động tại Việt Nam.
Những nguyên nhân gây xơ gan. Có nhiều nguyên nhân gây xơ gan: 3 + Các nguyên nhân thường gặp gây xơ gan. - Bệnh gan do rượu, bia. - Nhiễm virus viêm gan B (Hepatitis B virus: HBV).
- Nhiễm virus viêm gan C (Hepatitis C virus: HCV) - Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (Non-alcoholic fatty liver disease:NAFLD) + Các nguyên hiếm gặp gây xơ gan. - Bệnh xơ gan mật nguyên phát, bệnh viêm gan tự miễn. - Các nguyên nhân gây tắc nghẽn mật kéo dài: Sỏi mật. - Bệnh liên quan đến rối loạn chuyển hóa như: Wilson, thiếu hụt α anti trypsin, tích lũy glycogen, tyrosinaemia, galactosemia.
- Do thuốc và độc tố: Methotrexat, amiodazone, isoniazid, diclofenac, halouracil, aflatoxin…. Các biến đổi về giải phẫu, miễn dịch, vi sinh học và sự hình thành dịch cổ trướng trong xơ gan.1 Các biến đổi về giải phẫu trong xơ gan.1 Biến đổi cấu trúc tiểu thùy gan. Ở gan bình thường, cấu trúc tiểu thùy gan được sắp xếp một các có trật tự với nhiều thành phần như: Khoảng cửa (hay khoảng Kiernan) là khoảng giải phẫu tại nơi tiếp xúc của các tiểu thùy gan. Thành phần của khoảng cửa bao gồm: Vi động mạch gan; Vi tĩnh mạch cửa; Vi ống bạch huyết; Vi ống mật và sợi thần kinh.
Từ khoảng cửa, máu từ tĩnh mạch cửa và động mạch gan sẽ đến các xoang gan, trao đổi chất với các tế bào gan, sau đó đổ về tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy rồi về tĩnh mạch trên gan. Xoang gan là khoảng giải phẫu nằm giữa hai bè gan ( Bè Remark ). Trong xoang gan có xoang mạch. Vách của xoang mạch được cấu tạo bởi một lớp tế bào nội mô không liên tục, có nhiều khoảng trống, xen kẽ với lớp tế bào nội mô là những tế bào hình sao được gọi là tế bào Kupffer.
Xoang 4 mạch nhận máu từ hai nguồn: tĩnh mạch cửa và động mạch gan. Khoảng giữa các tế bào gan và tế bào nội mô xoang mạch được gọi là khoảng Disse. Đây là nơi xuất phát của các hệ bạch huyết trong gan và là nơi trao đổi chất giữa tế bào gan và máu trong xoang mạch. Diện tích của khoảng Disse là rất lớn.
Trung bình, khoảng Disse trao đổi 1500ml máu/phút, trong đó 1/4 là máu từ động mạch gan và 3/4 là máu từ tĩnh mạch gánh. Tế bào Kupffer là đại thực bào có số lượng nhiều nhất, chiếm 80% các đại thực bào của cơ thể, hình thành lên Hệ thống lưới nội mô (Reticulo Endothelial System – RES ) hay còn được gọi là hệ thống Đại thực bàocố định(Macrophage). RES được coi như lưới sàng lọc bắt giữ vi khuẩn và các chất lạ từ ống tiêu hóa đổ về theo đường tĩnh mạch gánh[16],[17] .1: Cấu trúc tiểu thùy gan bình thường. Trong xơ gan, cấu trúc tiểu thùy bị đảo lộn bởi quá trình hủy hoại tế bào gan và sự tân tạo của các tế bào sợi, do đó vai trò của tế bào Kupffer hay hệ RES bị giảm đi đáng kể[17].2 Hình thành các shunts mạch trong xơ gan.
Những biến đổi cố định trong cấu trúc gan bởi sự hình thành các khối tái tạo, cộng với sự lắng đọng collagen trong khoảng Disse và vai trò “co bóp” của tế bào Stellate gây ra sự cản trở dòng máu qua gan.Các yếu tố sinh mạch và giãn mạch được kích hoạt và hình thành các shunts mạch trong gan và ngoài gan[1]. 5 - Các shunts mạch trong gan: Trong xơ gan, shunts mạch trong gan thường gặp là type 2 và type 4[3]. Các shunts mạnh hình thành do xơ gan thường có đường kính < 2mm, trong khi các shunts mạch bẩm sinh lại có đường kính lớn hơn[18],[19]. Phân loại các type shunts mạch trong gan theo Jae Hyung Park và cộng sự - 1990.
- Type 1: Một nhánh tĩnh mạch lớn đơn độc nối Tĩnh mạch cửa (PV- Portal Vein) với Tĩnh mạch trên gan (IVC- Inferior Vena Cava). - Type 2: Các nhánh nối ở tĩnh mạch trong mỗi phân thùy, nối các nhánh của tĩnh mạch cửa với các nhánh của tĩnh mạch trên gan.Trong type 2 được chia làm 2 loại: Nhánh đơn độc hoặc nhiều nhánh nhỏ. - Type 3: Các nhánh nối ngoại vi có kiểu phình mạch ( Aneurysm ). - Type 4: Các nhánh nối ngoại vi giữa các phân thùy, nối hệ tĩnh mạch cửa với tĩnh mạch trên gan.2: Phân loại Shunts mạch trong gan của Park.Các shunts mạch trong gan type2 và type 4.
6 - Các shunts mạch ngoài gan: Là các vòng nối giữa tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch chủ như sau: + Vòng nối tâm vị thực quản: nối tĩnh mạch vành vị (hệ cửa) với với tĩnh mạch thực quản dưới (hệ chủ). + Vòng nối quanh rốn: tĩnh mạch rốn (Arantius) nối giữa tĩnh mạch gan (hệ cửa) với nhánh tĩnh mạch thành bụng trước (hệ chủ). + Vòng nối tĩnh mạch quanh trực tràng: tĩnh mạch trực tràng trên (hệ cửa) với tĩnh mạch trực tràng dưới và giữa (hệ chủ). + Vòng nối thành bụng sau: các nhánh tĩnh mạch cửa chạy trong mạc treo tràng nối với tĩnh mạch thành bụng sau ở những vùng có các tạng dính với thành bụng trong mạc Told và mạc Treitz.4 : Các shunts mạch ngoài gan trong xơ gan.
Trong xơ gan, 2 vòng nối được phát triển nhiều là : Vòng nối tâm vị - thực quản, liên quan đến xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản và Vòng nối thành bụng sau, liên quan đến con đường thẩm lậu của vi khuẩn gây VMBNKTP [1],[20].2 Các rối loạn miễn dịch liên quan đến xơ gan. -Hội chứng rối loạn miễn dịch liên quan đến xơ gan (Cirrhosis associated immune dysfunction syndrome – CAIDS): là tổng hợp đa yếu tố của rối loạn miễn dịch hệ thống bao gồm: các bạch cầu, các yếu tố bổ thể và 7 các tác nhân khác. CAIDS làm giảm khả năng của hệ miễn dịch trong việc làm sạch, loại bỏ vi khuẩn, các cyctokines, các độc tố của vi khuẩn trong hệ tuần hoàn. CAIDS một tình trạng rối loạn miễn dịch xảy ra rất sớm, ngay từ khi có những tổn thương gan đầu tiên: viêm gan cấp và mạn.
Mức độ rối loạn của CAIDS tăng dần theo mức độ tổn thương nhu mô gan và xơ gan [5].1: Suy giảm chức năng các tế bào bạch cầu trong CAIDS. Ở bệnh nhân xơ gan, tình trạng “sức khỏe và tuổi thọ” của các dòng bạch cầu làm nhiệm vụ miễn dịch đều bị suy giảm do nhiều cơ chế khác nhau. Trong đó, tình trạng tổn thương các thụ cảm thể nhận diện vi khuẩn (toll-like receptors - TLR) là phổ biến[21],[22], [23].5: Các toll-like receptors –trên bề mặt các tế bào Bạch cầu. 8 Các chức năng của dòng bạch cầu Neutrophils như : hóa ứng động, di cư, thực bào, giết chết tế bào vi khuẩn , đều bị giảm trong trường hợp xơ gan.
Sự giảm hoạt động thực bào được cho rằng do giảm hoạt động của tuftsin[24]và phospholipase C[25],[26] cụ thể là giảm chức năng của CD - 16 trên tế bào Neutrophils. Ngoài ra, sự tăng ammoniac máu và tình trạng giảm Natri máu làm giảm đời sống của Neutrophils cũng như khả năng thực bào của nó[27]. Giảm số lượng Neutrophils là hậu quả của cường lách trong xơ gan [28]. Dòng bạch cầu Monocyte giảm khả năng trình diện kháng nguyên, giảm sản xuất các chất tiền viêm, giảm khả năng bắt dính vi khuẩn do tổn thương các HLA-DR trên các Monocyte [21].
Trong khi các Đại thực bào được ghi nhận là giảm về số lượng (do tổn thương tế bào Kupffer ở gan) và bị “né tránh” bởi các shunts mạch, kết hợp với yếu tố nội tại là giảm chức năng hóa ứng động, giảm hoạt động của Fc-gamma receptors, giảm khả năng hoạt hóa của đại thực bào. Chức năng của dòng bạch cầu Lympho cũng có tình trạng suy giảm tương tự, và đặc biệt có sự suy giảm nhiều ở các trường hợp xơ gan do rượu[29]. - Giảm chức năng miễn dịch của hệ mô bạch huyết liên quan đến ruột (GALT - Gut Associated Lymphoid Tissue ) trong xơ gan: GALT là hệ thống miễn dịch của ống tiêu hóa (ruột). Giới hạn của hệ GALT được tính từ bề mặt lớp niêm mạc ruột (bao gồm cả lớp nhầy trên bề mặt niêm mạc) đến lớp dưới niêm mạc.
Thành phần trong hệ GALT bao gồm: lớp nhầy; các tế bào bề mặt niêm mạc; các tổ chức lympho dưới niêm mạc; các tế bào có thẩm quyền miễn dịch lớp dưới niêm mạc. Với diện tích bề mặt khoảng 500m2, ruột non được coi là hệ thống miễn dịch lớn nhất của cơ thể [30]. Chức năng của hệ GALT là chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn từ lòng ruột vào tuần hoàn nhờ vào các chất kháng khuẩn trong lớp nhầy gồm các chuỗi antimicrobial peptides (AMPs) do tế bào Paneth tiết ra; các 9 IgA,IgGđược tiết ra chủ yếu từ các mảng Peyer’s Patches và tế bào biểu mô ruột non; và các bổ thể C3,C4,CH50 có trong chất nhầy (mucus).6: Cấu tạo hệ GALT [10] Trong xơ gan, những tổn thương của tế bào niêm mạc ruột kết hợp với sự thiếu hụt của các chất kháng khuẩn làm giảm chức năng của hệ GALT trong việc ngăn cản vi khuẩn xâm nhập hệ thuần hoàn[31], [32].3 Các biến đổi về vi sinh học liên quan đến xơ gan.