Chương 1. Tổng quan về hệ thông ngăn chặn xâm nhập Giới thiệu công nghệ IPS, các phương pháp và phòng chống tân công, phân tích sự khác biệt cơ bản giữa IPS và IDS, các mô hình của hệ thống IPS, cách hoạt động của IPS và phân loại IPS để đưa ra những ứng dụng mà công nghệ IPS mang lai. Giới thiệu chung về thiết bị IOS IPS Trình bày các khái niệm của Cisco IPS, kha nang ứng dụng IPS, tìm hiểu các câu lệnh và cách tạo luật trong |OS IPS và những khó khăn mắc phải khi triển khai IPS. Mô phỏng và thực nghiệm Chương này trình bày cách cấu hình trên một hệ thống mạng và được mô phỏng trén GNS3 va VMWare.
Tổng quan về hệ thống ngăn chặn xâm nhập IPS 1.1 Giới thiệu hệ thống ngăn chặn xâm nhập Intrusion Prention System viết tắt là IPS là hệ thống ngăn chặn xâm nhập có chức năng tự động theo dõi và ngăn chặn các sự kiện xảy ra trong và ngoài hệ thống mạng, phân tích và ngăn ngừa các vẫn đề liên quan tới bảo mật và an ninh. Hệ thống ngăn chặn xâm nhập giám sát bat ctr lưu lượng nảo của gói tin đi qua và đưa ra quyết định liệu đây có phải là một cuộc tấn công hay một sự truy cập hợp pháp — sau đó thực hiện hành động thích hợp để bảo vệ hệ thông mạng. Trước các hạn chế của hệ thông phát hiện xâm nhập — Intrusion Detection System (IDS), một vấn đề được đặt ra là làm sao hệ thông có thể tự động ngăn chặn được các cuộc tấn công chứ không chỉ đưa ra cảnh báo nhằm giảm thiểu công việc của người quản trị. Hệ thống ngăn ngừa xâm nhập được ra đời vào năm 2003, được phô biến rộng rải cho đến ngày nay và đã dần dần thay thế cho hệ thống phát hiện xâm nhập - IDS, bởi nó có thể giảm bớt các yêu cầu tác động của con người trong việc ngăn ngừa xâm nhập, có khả năng phát hiện các cuộc tấn công và tự động ngăn chặn các cuộc tấn công nhằm vào điểm yếu của hệ thống, tuy nhiên một hệ thống ngăn chặn xâm nhập có thể hoạt động như một hệ thống IDS bằng việc ngắt bỏ tính năng ngăn chăn xâm nhập.
Một hệ thống ngăn chặn xâm nhập phát triển đa dạng trong cả phần mềm và phần cứng, mục đích chung là quan sát các sự kiện trên hệ thống mạng và thông báo cho nhà quản trị biết về an ninh của hệ thống. Một số IPS so sánh các gói tin nghe được trên mạng với danh sách tấn công đã biết trước thông qua các dấu hiệu, khi lưu lượng mạng được xem là phù hợp với một dấu hiệu thì chúng sẽ ngăn chặn, hệ thông này gọi là Signature-Based IPS. Đối với việc quan sát lưu lương của hệ thống theo thời gian và xem xét các tình huỗng không phù hợp với bình thường thì sẽ ngăn lại, hệ thống này gọi là anomaly-Based IPS. Sau day ta tìm hiểu từng loại hệ thống: Hệ thống phát hiện xâm nhập mềm (Snort): Snort là một phần mềm phát hiện xâm nhập mã nguồn mở kết hợp với tường lửa (Hình 1-1) để tạo thành một hệ thống ngăn -13- chặn xâm nhập - PS, nó hoạt động dựa trên các dấu hiệu cho phép giám sát, phát hiện những cuộc tấn công.
Snort được nhiều tô chức, doanh nghiệp phát triển và biến thành sản phẩm thương mại như Sourcefire, Astaro, .Dé cai dugc snort thi dau tién xem xét quy mô của hệ thống mạng, các yêu cầu để có thể cài đặt snort như là: cần không gian dĩa cứng để lưu trữ các file log ghi lại cảnh báo của snort, phải có một máy chủ khá mạnh và việc chọn lựa một hệ điều hành không kém phần quan trọng thường thi người quản trị sẽ chọn cho mình một hệ điều hành mà họ sử dụng một cách thành thạo nhất. Snort có thể chạy trên các hê điều hành như Window, Linux. Snort chủ yếu là một hệ thông phát hiện xâm nhập - IDS dựa trên luật được lưu trữ trong các file text có thể được chỉnh sửa bởi người quản trị, Các luật được nhóm thành các kiểu và mỗi loại được lưu trong các file khác nhau. Firewall Internet Hình 1-1 M6 hinh Snort két hop Firewall Hệ thống phát hiện xâm nhập cứng (Cisco): Cisco cung cấp nhiều loại thiết bị phát hiện và ngăn chặn xâm nhập, có nhiều loại cảm biến cho phép quyết định vị trí tốt nhất để giám sát hoạt động xâm nhập cho hệ thống (Hình 1-2), Cisco cung cấp các loại cảm biến sau đây: Cisco ASA AIP SSM sử dụng công nghệ tiên tiến phòng chống xâm nhập, sản phẩm bao gồm Cisco ASA AIP SSM-10 với I-GB bộ nhớ, mét Cisco ASA AIP SSM- 20 với 2-GB bộ nhớ, và một Cisco ASA AIP SSM-40 - 14- NIPS ==rJ = = đ a | S | Web ĐNS E-Mail HIPS HIPS HIPS Hình 1-2 Mô hình ngăn chặn xâm nhâp cứng Cisco IP§ 4.200 loạt các cảm biến đáng kể để bảo vệ mạng bằng cách phát hiện, phân loại, và ngăn chặn các mối đe dọa, bao gồm cả sâu, phần mềm gián điệp và phần mềm quảng cáo virus mạng, và lạm dụng ứng dụng.
Sử dụng Cisco IPS Sensor Software Version 5.1, Cisco IPS giải pháp kết hợp các dịch vụ phòng chống xâm nhập nội tuyến với các công nghệ tiên tiễn dé cải thiện tính chính xác.500 Series Intrusion Detection System Services Module (IDSM-2): là một phần của giải pháp của Cisco IPS, nó hoạt động kết hợp với các thành phần khác để bảo vệ dữ liệu.2 Sơ lược các kiểu tấn công và cách phòng chống 1.1 Các loại tín công Hiểu được những điểm yếu trong bảo mật là một vẫn đề hết sức quan trọng đề tiến hành những chính sách bảo mật có hiệu quả. Những điểm yếu trong bảo mật mạng gồm có những điểm yếu: Về mặt kỹ thuật, về mặt cầu hình và các chính sách bảo mật. Điểm yếu về mặt kỹ thuật: Điểm yếu trong kỹ thuật gồm có điểm yếu trong các giao thức, trong Hệ điều hành và các thiết bị phần cứng như Server, ŠSwitch, Router,. - 15- Điểm yếu trong cấu hình hệ thống: Đây là lỗi do nhà quản tri tạo ra.
Lỗi này do các thiếu sót trong việc cấu hình hệ thống như: Không bảo mật tài khoản khách hàng, sử dụng các câu hình mặc định trên thiết bị như switch, router, modem. Nếu dựa vào hành động của cuộc tấn công có thể chia tắn công ra làm hai loại là: Tấn công thụ động: Là phương pháp tân công không tác động đến nội dung thông điệp được truyền trên mạng mà chỉ lắng nghe và phân tích nội dung của thông điệp, từ đó hacker có những thông tin cần thiết chuẩn bị cho các phương pháp tân công tiếp theo. Đối với thông điệp không được mã hoá thì hacker có thê bắt và hiểu được đầy đủ nội dung thông tin gửi đi giống như người gửi đã gửi cho chính hacker, còn với những thông điệp đã được mã hóa trước khi gửi thì hacker vẫn nhận được những thông điệp trên đường truyền nhưng việc hiểu đúng nội dung packet không phải là đễ dàng, vì nội dung thông điệp mà hacker nhận được chỉ ở dạng mã hóa, việc phân tích để hiểu nội dung thông điệp tùy thuộc vào các điểm yếu của thuật toán mã hóa. Kết quả nhận được từ hình thức tấn công này có thể là thông tin về các giao thức truyền thông trên mạng TCP, UDP, các thông tin về mạng network, subnet, gateway, router, nội dung thông điệp, khoá dùng để mã hóa cho thông điệp.
Tấn công chủ động: Là phương pháp tấn công can thiệp vào nội dung của thông điệp được truyền trên mạng hoặc tác động trực tiếp đến các thực thê như các thiết bị, máy tính,. làm ảnh hưởng đến tính toàn vẹn, sẵn sàng và xác thực của dữ liệu. Có một số cách thức tắn công chủ động như sau: e - Giả mạo xác nhận quyền truy cập - Authentication Spoofing e - Thay đối nội dung thông điệp - Message Modification e _ Phương pháp tấn công qua người trung gian - Man-In-Middle Attack Nếu dựa vào nguồn gốc của cuộc tấn công thì có thê phân loại tắn công làm hai loại. Tấn công từ bên trong va tấn công từ bên ngoài: Tấn công từ bên trong: Là những tân công xuất phát từ bên trong hệ thống mạng.
Kẻ tấn công là những người trong hệ thông mạng nội bộ muốn truy cập, lẫy thông tin nhiều hơn quyền cho phép. - 16- Tấn công từ bên ngoài: Là những tấn công xuất phát từ bên ngoài Internet hay các kết nối truy cập từ xa.2 Các bước tấn công thường gặp Bước L: Kẻ tấn công khảo sát, thu thập thông tin về nơi tấn công đề phát hiện các máy chủ, địa chỉ IP, các dịch vụ mạng,. Bước 2: Kẻ tấn công sử dụng các thông tin thu thập được từ buớc I để tìm kiếm thêm thông tin vẻ lỗ hồng và điểm yếu của hệ thống mạng, các công cụ thường được sử dụng cho quá trình này là các công cụ quét công Scan port, quét IP, dò tìm lỗ hồng. Bước 3: Các lỗ hỗng được tìm thấy trong bước 2, kẻ tấn công sử dụng nó đề khai thác xâm nhập vào hệ thông, chúng có thể dùng các kỹ thuật như tràn bộ đệm, từ chối dich vu DoS.
Bước 4: Một khi kẻ tấn công đã xâm nhập được vào hệ thông bước tiếp theo là làm sao đề duy trì các xâm nhập này nhằm khai thác và xâm nhập tiếp trong tương lai như Backboors, Trojans. và khi đã làm chủ chúng có thể gây ra những nguy hại cho hệ thống hoặc đánh cắp thông tin. Ngoài ra, chúng có thể sử dụng hệ thống này dé tan công vào các hệ thống khác như tấn công DDoS. Bước 5: Khi kẻ tắn công đã xâm nhập và cỗ gắng duy trì xâm nhập bước tiếp theo là chúng phải làm sao xóa hết dấu vết để không còn chứng cứ xâm nhập như xóa các tập tin loøg, xóa các cảnh báo từ hệ thống phát hiện xâm nhập.
Hau hết các cuộc tấn công đều tiễn hành tuần tự 5 bước trên, làm sao đề nhận biết hệ thống mạng đang bị tân công ngay từ hai bước đầu tiên là hết sức quan trọng, ở bước 2 và bước 3 kẻ tấn công thường làm lưu lượng kết nối thay đôi khác với lúc mạng bình thường, đồng thời tài nguyên của hệ thống máy chủ sẽ bị ảnh hưởng, ở bước 3 là xâm nhập thì không dễ dàng đối với kẻ tấn công. Do vậy, khi không thể xâm nhập được vào hệ thống để phá hoại có nhiều khả năng kẻ tấn công sẽ sử dụng tấn công từ chối dịch vụ DoS hay DDoS để ngăn không cho người dùng hợp lệ truy xuất tài nguyên hệ thống.