Chương 1: Nêu vấn đề, phân tích từ đó trình bày lý do chọn đề tài và đề xuất hướng giải quyết, khắc phục. Chương 2: Trình bày tóm tắt về cơ sở lý thuyết chung, các thành phần liên quan tới việc chuyên đề nghiên cứu. Từ đó đưa ra kết luận và định hướng xây dựng mô hình kiểm thử cho nghiên cứu sau này. Chương 3: Thực hiện xây dựng mô hình kiểm thử chuỗi chức năng mạng ảo hóa.
Trình bày các thành phần trong mô hình kiểm thử. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG Chương 2 sẽ trình bày tổng quan về điện toán đám mây, những hiểu biết căn bản về công nghệ ảo hóa, đặc biệt là 2 công nghệ ảo hóa dẫn đầu xu hướng hiện nay là ảo hóa Docker và Containerlization. Từ đó áp dụng xây dựng và quản lý container trên nền tảng OpenStack, đưa ra kết luận và định hướng xây dựng mô hình kiểm thử. Tổng quan về điện toán đám mây 2.
Giới thiệu về điện toán đám mây Cloud computing (Điện toán đám mây – Điện toán máy chủ ảo) giúp cho các tài nguyên của hệ thống máy tính, đặc biệt là khả năng lưu trữ và tính toán, có sẵn theo yêu cầu mà không cần người dùng quản lý trực tiếp. Định nghĩa điện toán đám mây được dịch từ NIST – Viện tiêu chuẩn và công nghệ quốc qua của Mỹ: Điện toán đám mây là mô hình cho phép truy cập qua mạng để lựa chọn và sử dụng tài nguyên có thể được tính toán (ví dụ như: mạng, máy chủ, lưu trữ, ứng dụng và dịch vụ) theo nhu cầu một cách thuận tiện và nhanh chóng; đồng thời cho phép kết thúc sử dụng dịch vụ, giải phóng tài nguyên dễ dàng, giảm thiểu các giao tiếp với nhà cung cấp [1]. Điện toán đám mây giúp cho việc thao tác, cấu hình truy cập tài nguyên phần cứng và phần mềm có thể diễn ra từ xa. Nó cung cấp các nền tảng độc lập, do phần mềm không bắt buộc phải được cài đặt trên máy tính cục bộ.
Người dùng sử dụng dịch vụ như cơ sở dữ liệu, website, lưu trữ, … trong mô hình điện toán đám mây không cần quan tâm đến vị trí địa lý cũng như các thông tin khác của hệ thống mạng đám mây - “Điện toán đám mây trong suốt đối với người dùng”. Người dùng cuối truy cập và sử dụng các ứng dụng đám mây thông qua các ứng dụng như trình duyệt web, các ứng dụng mobile, hoặc máy tính cá nhân thông thường. Hiệu năng sử dụng phía người dùng cuối được cải thiện khi các phần mềm chuyên dụng, các cơ sở dữ liệu được lưu trữ và cài đặt trên hệ thống máy chủ ảo trong môi trường điện toán đám mây trên nền của “Data Center”. “Data center” là thuật ngữ chỉ khu vực chứa server và các thiết bị lưu trữ, bao gồm nguồn điện và các thiết bị khác như rack, cable, … có khả năng sẵn sàng và độ ổn định cao.
Ngoài ra còn bao gồm các tiêu chí khác như: tính module hóa cao, khả năng mở rộng dễ dàng, nguồn và làm mát, hỗ trợ hợp nhất server và lưu trữ mật độ cao [2]. Điện toán đám mây được hình thành bằng cách kết hợp công nghệ ảo hóa trên các nút máy chủ vật lý lại với nhau trên mạng vật lý, kết hợp lưu trữ có chia sẻ và phối hợp quản lý trên toàn bộ cơ sở hạ tầng, rồi cung cấp cân bằng tải. Mô hình cơ sở hạ tầng của điện toán đám mây được mô tả trong hình sau: 10 Hình 2. Mô hình triển khai Cloud Computing Hình 2.1 cho thấy người sử dụng (user) có thể được truy cập cơ sở hạ tầng điện toán đám mây từ bất kỳ thiết bị nào và từ bất kỳ đâu trên thế giới.
Đám mây là một điểm truy cập duy nhất cho tất cả các máy tính có nhu cầu của khách hàng. Các dịch vụ cần đáp ứng yêu cầu chất lượng dịch vụ từ phía khách hàng và thông thường đều đưa ra các mức thỏa thuận dịch vụ. Các tiêu chuẩn mở và phần mềm mã nguồn mở cũng góp phần phát triển điện toán máy chủ ảo. Các đặc trưng của điện toán đám mây Công nghệ Cloud Computing – Điện toán đám mây bao gồm năm tính năng chính với 4 mô hình triển khai và 3 mô hình dịch vụ.
Hình ảnh định nghĩa mô hình điện toán đám mây 11 Hình 2.2 đưa ra các đặc trưng của điện toán đám mây bao gồm năm tính năng chính, bốn mô hình triển khai và ba mô hình dịch vụ. Đặc điểm của các phần này được nêu chi tiết dưới đây. Năm tính năng chính: • Rapid elasticity (Tính đàn hồi cao): các khả năng tính toán tài nguyên có thể được cung cấp và giải phóng một cách đàn hồi để mở rộng nhanh chóng ra bên ngoài đồng thời bên trong tương ứng với nhu cầu sử dụng. Đối với khách hàng, các khả năng có sẵn thường xuất hiện không bị giới hạn và thích hợp với mọi số lượng ở bất kỳ thời điểm nào.
• Measured service (Tính toán dịch vụ): hệ thống cloud có thể tự động điều khiển và tối ưu hóa tài nguyên ở một số level của tài nguyên dịch vụ như: lưu trữ xử lý, băng thông và kích hoạt tài khoản. Lưu lượng sử dụng tài nguyên có thể được quản lý, điều khiển, báo cáo cho cả nhà cung cấp và khách hàng sử dụng dịch vụ. Từ đó có thể tính toán được chi phí của người sử dụng. • On–demand selft service (Tự phục vụ theo nhu cầu): người dùng có thể đơn phương cung cấp các khả năng tính toán, ví dụ như thời gian máy chủ, lưu trữ mạng, một cách tự động mà không cần tới tương tác giữa họ với nhà cung cấp dịch vụ.
• Resource pooling (Dùng chung tài nguyên mạng): tài nguyên tính toán được của nhà cung cấp được dùng chung cho nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ đa thuê bao, với những nguồn tài nguyên vật lý và ảo khác nhau được phân công và bố trí theo nhu cầu của người sử dụng. Khách hàng không thể xác định và biết được vị trí chính xác của nguồn tài nguyên nhưng mà có thể dễ dàng xác định được vị trí cung cấp nguồn tài nguyên một cách tương đối (quốc gia, liên bang, trung tâm dữ liệu). Gộp chung nguồn tài nguyên của nhiều máy chủ với nhau thành một khối thống nhất, rồi sau đó sẽ san sẻ tài nguyên cho người dùng với mục đích dễ quản lý, cấp phát tài nguyên dễ dàng, nhanh chóng. Ba mô hình cung cấp dịch vụ: Đặc trưng tiêu biểu của các dịch vụ điện toán đám mây (Cloud Computing) là cung cấp cơ sở hạ tầng, nền tảng và phần mềm như là dich vụ máy chủ ảo; đồng thời có thể được cung ứng như là một dich vụ cho thuê trong cách dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu đối với người dùng.
Mô hình dịch vụ của điện toán đám mây bao gồm: • Software as a Service (Saas): khách hàng sử dụng những ứng dụng chạy trên nền tảng cloud của nhà cung cấp. Các ứng dụng có thể truy cập được từ các thiết bị thông 12 qua giao diện với người dùng, khách hàng không có quyền quản lý và điểu khiển kiến trúc hạ tầng của cloud như mạng, server, lưu trữ, hệ thống vận hành và thậm chí cả một vài ứng dụng cá nhân … do đó hạn chế người dùng về việc cấu hình đặc biệt cho các ứng dụng (người dùng không cần quan tâm xem cloud triển khai như thé nào, chỉ cần thuê và sử dụng dịch vụ thông qua các phần mềm client (Web Browser …). • Platform as a Service (PaaS): nền tảng như một dịch vụ. Cung cấp các dịch vụ về nền tảng, môi trường lập trình, database, … để khách hàng phát triển các ứng dụng của mình (thông thường nền tảng này cung cấp cho các developer).
Ví dụ: Azue, Bluemix, OpenShift, … Nhưng khách hàng không được quản lý các kiến trúc hạ tầng của cloud mà chỉ được phép điều khiển các ứng dụng triển khai và có thể đồng bộ cài đặt cho môi trường quản lý ứng dụng. • Infrastructure as a Service (IaaS): cung cấp các dịch vụ về hạ tầng, các máy chủ, tài nguyên tính toán (RAM, CPU), lưu trữ. Trên đó người dùng sẽ tạo các máy ảo với hệ điều hành, triển khai ứng dụng theo nhu cầu của mình (người dùng không được điều khiển hạ tầng cloud nhưng có thể điều khiển được hệ thống OS, khả năng lưu trữ, các ứng dụng được triển khai, và có thể có một số quyền kiểm soát chọn mạng). 4 mô hình triển khai: • Public cloud: hạ tầng Cloud được cung cấp cho tất cả mọi người dùng thông thường.
Được xây dựng nhằm phục vụ cho mục đích sử dụng công cộng. Khách hàng sẽ đăng kí với nhà cung cấp và trả phí sử dụng dựa theo chính sách của nhà cung cấp. Public cloud là mô hình triển khai được sử dụng phổ biến nhất hiện nay của cloud computing. - Đối tượng sử dụng: bao gồm người dùng bên ngoài Internet.
Đối tượng quản lý là nhà cung cấp dịch vụ. - Ưu điểm: phục vụ được nhiều người dùng hơn, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. tiết kiệm hệ thống máy chủ, điện năng và nhân công cho doanh nghiệp. - Nhược điểm: các doanh nghiệp phụ thuộc vào nhà cung cấp không có toàn quyền quản lý.
Gặp khó khăn trong việc lưu trữ các văn bản, thông tin nội bộ. Tuy nhiên Public Cloud có một trở ngại, đó là vấn đề mất kiểm soát về dữ liệu và vấn đề an toàn dữ liệu. Trong mô hình này mọi dữ liệu đều nằm trên dịch vụ Cloud, do nhà cung cấp dịch vụ Cloud đó bảo vệ và quản lý. Chính điều này khiến cho khách hàng, nhất là các công ty lớn cảm thấy không an toàn đối với những dữ liệu quan trọng của mình khi sử dụng dịch vụ Public Cloud.
Mô hình Public Cloud Hình 2.3 chỉ ra đặc điểm của mô hình Public Cloud. Các khách hàng (user) sẽ đăng kí dịch vụ mình cần sử dụng với nhà cung cấp đám mây. Người quản trị (administrator) của nhà cung cấp có nhiệm vụ quản lý các dịch vụ và khách hàng này. • Private Cloud: nền tảng cloud được cung cấp độc quyền cho 1 tổ chức bao gồm nhiều đối tượng (như công ty kinh doanh.
Nó có thể được làm chủ, điều khiển và vận hành bởi một tổ chức – một thành viên thứ ba, hoặc là có sự kết hợp giữa hai bên, có thể tồn tại hoặc không … Đây là xu hướng tất yếu cho các doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa hạ tầng công nghệ thông tin. Mô hình Private Cloud - Đối tượng sử dụng: nội bộ doanh nghiệp sử dụng và quản lý.