Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BÀI TOÁN ĐIỀU CHỈNH ĐIỆN ÁP 1.1 Bộ điều chỉnh điện áp 1.1 Tính năng, tác dụng của AVR Hệ thống AVR chính là Bộ tự động điều chỉnh điện áp AVR. Bộ tự động điều chỉnh điện áp, tần số tự động (Automatic Voltage Regulator – AVR) trong các máy phát điện, là một phần đóng vai trò quan trọng của mỗi máy phát hoặc hệ thống tổ máy phát điện, nếu mất tính năng tự điều chỉnh này thì chất lượng điện cung cấp (điện áp và tần số) không đáp ứng được yêu cầu khắt khe của hệ thống thiết bị 13. Bộ tự động điều chỉnh điện áp AVR có tính năng, tác dụng: - Điều chỉnh điện áp máy phát điện. - Giới hạn tỷ số điện áp/tần số.
- Điều chỉnh công suất vô công máy phát điện. - Tạo độ suy giảm điện áp theo công suất vô công, để cân bằng sự phân phối công suất vô công giữa các máy với nhau trong hệ thống khi máy vận hành nối lưới. - Khống chế dòng điện kháng do thiếu kích thích, nhằm tạo sự ổn định cho hệ thống khi máy nối lưới.1 Điều chỉnh điện áp máy phát điện Bộ điều chỉnh điện áp tự động luôn luôn theo dõi điện áp đầu ra của máy phát điện và so sánh nó với một điện áp tham chiếu. Nó phải đưa ra những mệnh lệnh để tăng giảm dòng điện kích thích sao cho sai số giữa điện áp đo được và điện áp tham chiếu là nhỏ nhất.
Muốn thay đổi điện áp của máy phát điện, người ta chỉ cần thay đổi điện áp tham chiếu này. Điện áp tham chiếu thường được đặt tại giá trị định mức khi máy phát vận hành độc lập (Isolated) hoặc điện áp thanh cái, điện áp lưới tại chế độ vận hành hòa lưới (Paralled). Lê Hùng Lân HVTH. Trần Thị Hoa Luận văn tốt nghiệp Cao học 11 Tự động hóa 1.2 Giới hạn tỷ số điện áp/tần số Khi khởi động một tổ máy, lúc tốc độ quay của rotor còn thấp, tần số phát ra sẽ thấp.
Khi đó, bộ điều chỉnh điện áp tự động sẽ có khuynh hướng tăng dòng kích thích lên sao cho đủ điện áp đầu ra như tham chiếu theo giá trị đặt hoặc điện áp lưới. Điều này dẫn đến quá kích thích: cuộn dây rotor sẽ bị quá nhiệt, các thiết bị nối vào đầu cực máy phát như biến thế chính, máy biến áp tự dùng … sẽ bị quá kích thích, bão hòa từ và quá nhiệt. Thường tốc độ máy phát cần đạt đến 95% tốc độ định mức. Bộ điều chỉnh điện áp tự động cũng phải luôn theo dõi tỷ số này để điều chỉnh dòng kích thích cho phù hợp, mặc dù điện áp máy phát chưa đạt đến điện áp tham chiếu.3 Điều chỉnh công suất vô công máy phát điện Khi máy phát chưa phát điện lên lưới, việc thay đổi dòng điện kích từ chỉ thay đổi điện áp đầu cực máy phát.
Quan hệ giữa điện áp máy phát đối với dòng điện kích từ được biểu diễn bằng một đường cong, gọi là đặc tuyến không tải (đặc tuyến V-A) Tuy nhiên khi máy phát điện được nối vào một lưới có công suất rất lớn so với công suất của máy phát, việc tăng giảm dòng kích thích hầu như không làm thay đổi điện áp lưới. Tác dụng của bộ điều áp khi đó không còn là điều khiển điện áp máy phát nữa, mà là điều khiển dòng công suất phản kháng (còn gọi là công suất vô công, công suất ảo) của máy phát. Khi dòng kích thích tăng, công suất vô công tăng. Khi dòng kích thích giảm, công suất vô công giảm.
Dòng kích thích giảm đến một mức độ nào đó, công suất vô công của máy sẽ giảm xuống 0 và sẽ tăng lại theo chiều ngược lại (chiều âm), nếu dòng kích thích tiếp tục giảm thêm. Điều này dẫn đến nếu hệ thống điều khiển điện áp của máy phát quá nhạy, có thể dẫn đến sự thay đổi rất lớn công suất vô công của máy phát khi điện áp lưới dao động. Do đó, bộ điều khiển điện áp tự động, ngoài việc theo dõi và điều khiển điện áp, còn phải theo dõi và điều khiển dòng điện vô công. Thực chất của việc điều khiển này là điều khiển dòng kích thích khi công suất vô công và điện áp lưới có sự thay đổi, sao cho mối liên hệ giữa điện áp máy phát, điện áp lưới và công suất vô công phải là mối liên hệ hợp lý.
Lê Hùng Lân HVTH. Trần Thị Hoa Luận văn tốt nghiệp Cao học 12 Tự động hóa 1.4 Bù trừ điện áp suy giảm trên đường dây Khi máy phát điện vận hành độc lập hoặc nối vào lưới bằng một trở kháng lớn, khi tăng tải sẽ gây ra sụt áp trên đường dây. Sụt áp này làm cho điện áp tại hộ tiêu thụ bị giảm theo độ tăng tải, làm giảm chất lượng điện năng. Muốn giảm bớt tác hại này của hệ thống, bộ điều áp phải dự đoán được khả năng sụt giảm của đường dây và tạo ra điện áp bù trừ cho độ sụt giảm đó.
Tác dụng bù này giúp cho điện áp tại một điểm nào đó giữa máy phát và hộ tiêu thụ sẽ được ổn định theo tải. Điện áp tại hộ tiêu thụ sẽ giảm đôi chút so với tải, trong khi điện áp tại đầu cực máy phát sẽ tăng đôi chút so với tải. Để có được tác động này, người ta đưa thêm một tín hiệu dòng điện vào trong mạch đo lường. Dòng điện của một pha từ thứ cấp của biến dòng đo lường sẽ được chảy qua một mạch điện R và L, tạo ra các sụt áp tương ứng với sụt áp trên R và L của đường dây từ máy phát đến điểm mà ta muốn giữ ổn định điện áp.
Điện áp này được cộng thêm vào (hoặc trừ bớt đi) với điện áp đầu cực máy phát đã đo lường được. Bộ điều áp tự động sẽ căn cứ vào điện áp tổng hợp này mà điều chỉnh dòng kích từ sao cho điện áp tổng hợp nói trên là không đổi. Nếu các cực tính của biến dòng đo lường và biến điện áp đo lường được nối sao cho chúng trừ bớt lẫn nhau, sẽ có: Ump – Imp(r + jx) = const. Như vậy, chiều đấu nối này làm cho điện áp máy phát sẽ tăng nhẹ khi tăng tải.
Độ tăng tương đối được tính trên tỷ số giữa độ tăng phần trăm của điện áp máy phát khi dòng điện tăng từ 0 đến dòng định mức. Ví dụ, khi dòng điện máy phát bằng không, thì điện áp máy phát là 100%. Khi dòng điện máy phát bằng dòng điện định mức, thì điện áp máy phát là 104% điện áp định mức. Vậy độ tăng tương đối là +4%, độ tăng này còn gọi là độ bù (compensation).
Độ bù của bộ điều áp càng cao thì điểm ổn định điện áp càng xa máy phát và càng gần tải hơn. Trong các nhà máy điện nói chung và nhà máy thủy điện nói riêng, vấn đề duy trì điện áp đầu cực máy phát ổn định GVHD: PGS. Lê Hùng Lân HVTH. Trần Thị Hoa Luận văn tốt nghiệp Cao học 13 Tự động hóa (liên quan đến tần số phát) và bằng với giá trị điện áp định sẵn là rất quan trọng.
Hệ thống kích từ máy phát phải đảm bảo điều này bằng cách thay đổi giá trị của bộ bù tổng trở khi máy phát vận hành hoặc cách ly với hệ thống và các máy cắt đường dây truyền tải đóng hoặc mở. Thành phần quan trọng nhất trong hệ thống là các cầu chỉnh lưu thyristor và bộ tự động điều chỉnh điện áp (AVR-Automatic Voltage Regulator).2 Nguyên lý hoạt động của AVR 1.1: Sơ đồ nnguyên lý của AVR Cuộn dây 1-2 là cuộn dây cấp nguồn AC cho mạch kích từ. Cuộn dây 3-4 là cuộn dây hồi tiếp, đo lường điện áp ra của máy phát để điều chỉnh kích từ cho phù hợp. F+, F- là cuộn dây kích từ trong rotor của máy phát.
Lê Hùng Lân HVTH. Trần Thị Hoa Luận văn tốt nghiệp Cao học 14 Tự động hóa 1.2 Nguyên lý làm việc Nguồn kích từ được chỉnh lưu qua cầu diode PB1004 thành một chiều. Điện áp một chiều này được cấp điện cho cuộn dây kích từ qua sự điều chỉnh của cặp transistor darlington D718 và H1061. Cặp Darlington này được phân cực bằng hai điện trở 27kΩ, 5w song song.
Như vậy, nếu không có gì thay đổi và điều chỉnh, transistor D718 sẽ bão hòa. Gần như toàn bộ điện áp đặt lên cuộn kích từ. Cuộn dây 3-4 sẽ hồi tiếp điện áp ra của máy phát về mạch điều thế. Nếu máy phát có đủ điện áp định mức, điện áp hồi tiếp xấp xỉ 26VAC.
Sau khi chỉnh lưu sẽ ra 24VDC. Điện áp này được đưa qua bộ lọc 470Ω và 47µF, sau đó qua cầu phân áp thành 8,6V. Nếu điện áp ra máy phát lớn hơn 220V, điện áp hồi tiếp sẽ lớn hơn 8,6V, làm zenner 8V dẫn, và transistor H1061 dẫn, làm giảm bớt dòng phân cực cho cặp darlington, nhờ đó giảm bớt dòng kích từ lại. Tóm lại: khi áp thấp, cặp Darlington dẫn tự do, dòng kích từ tăng cao.
Khi áp xấp xỉ định mức, trasistor 1061 sẽ điều chỉnh để giảm bớt dòng kích từ lại. Mạch sẽ hoạt động ổn định khi đầu ra của mạch đo lường xấp xỉ 8,6V.3 Các phương pháp tự động điều chỉnh điện áp Mỗi hệ thống kích từ của máy phát được trang bị một bộ tự động điều chỉnh điện áp (Automatic Voltage Regulator – AVR). Bộ AVR được đấu nối với các biến điện áp một pha 110V riêng biệt nhau nằm trong tủ thiết bị đóng cắt máy phát. Bộ AVR đáp ứng được thành phần pha thứ tự thuận của điện áp máy phát và không phụ thuộc vào tần số.
Bộ AVR là loại điện tử kỹ thuật số, nhận tín hiệu đầu vào là điện áp 3 pha tại đầu cực máy phát, sử dụng nguyên lý điều chỉnh PID theo độ lệch điện áp đầu cực máy phát, nó cũng có chức năng điều chỉnh hằng số hệ số công suất và hằng số dòng điện trường. Một bộ cài đặt điện áp được sử dụng, thiết bị này thích hợp với việc vận hành bằng tay tại tủ điều chỉnh điện áp và tại tủ điều khiển tại chỗ tổ máy. Bộ cài đặt này có khả năng đặt dải điện áp đầu cực máy trong khoảng ± 50% giá trị điện áp định mức. Tất cả các bộ cài đặt giá trị vận hành đều là điều GVHD: PGS.
Lê Hùng Lân HVTH. Trần Thị Hoa Luận văn tốt nghiệp Cao học 15 Tự động hóa khiển điện tử kỹ thuật số. Bộ cài đặt giá trị điện áp vận hành bằng tay và bộ cài đặt giá trị điện áp mẫu phải tự động đặt về giá trị nhỏ nhất khi tổ máy dừng.