Chương 1 của đề tài sẽ đề cập tới một số khái niệm liên quan tới việc dự báo quyết định mua hàng cũng như một số nghiên cứu có ứng dụng Hoc máy dé nghiên cứu van đề này. Từ đó lựa chọn được hướng đi phù hợp nhất với nghiên cứu “Ứng dụng Học máy để dự báo quyết định mua mỹ phẩm online của khách hàng”. Một số khái niệm về thương mại điện tử, mỹ phẩm và thực trạng thị trường tiêu dùng hiện nay cũng được đề cập đến trong chương này. MOT SO KHÁI NIỆM 1.
Khai quat về thương mại điện tử 1. Khái niệm về thương mại điện tử Thương mại điện tử là hình thức mua và bán hàng hóa và dịch vụ, chuyền tiền hay dữ liệu trên môi trường Internet qua nền tảng hoặc website bán hàng (còn gọi là website Thương mại điện tử). Phạm vi của Thương mại điện tử rất rộng và bao quất hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế (việc mua bán hàng hóa và dich vụ chỉ là một trong rất nhiều lĩnh vực áp dụng của Thương mại điện tử). Các giao dịch kinh doanh Thương mại điện tử này xảy ra với nhiều tư cách khác nhau: doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B), doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C), người tiêu dùng với người tiêu dùng hoặc người tiêu dùng với doanh nghiệp.
Với sự phát triển bùng nỗ hiện nay, thương mại điện tử đã trở thành một phần quan trọng trong hoạt động mua sắm tiêu dung của nhiều người tiêu dùng. Ngoài việc mua trực tiếp từ một nhà bán lẻ, người dùng ngày cảng ưa chuộng mô hình thương mại điện tử với 93% ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã thực hiện giao dịch tại các trang thương mại điện tử trong 3 tháng vừa qua. Tuy nhiên, khác với hình thức mua sắm truyền thống, có rất 11175405 — Nguyễn Thị Hồng Yến 11 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế nhiều yếu tố quan trọng sẽ tác động tới quyết định mua hang của người tiêu dùng trong mua sắm trực tuyến. Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trên mang máy tính mở như Internet, trên thực tế chính các hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã phát sinh thuật ngữ Thương mại điện tử.
Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y té chuyén dung) va thuong mai dich vu (vi du nhu dich vu cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo). Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đôi cách thức mua sắm của COn người. Hiện nay có rất nhiều tranh cãi về các hình thức và cách phân chia các hình thức này trong thương mại điện tử. e Dựa theo đối tượng chính (Chính phủ, Doanh Nghiệp và Khách hàng), thương mại điện tử được chia là 9 hình thức chính: o Doanh nghiệp với Doanh nghiệp (B2B) Doanh nghiệp với Khách hàng (B2C) ©O0 Doanh nghiệp với Nhân viên (B2E) Doanh nghiệp với Chính phủ (B2G) Chính phủ với Doanh nghiệp (G2B) Chính phủ với Chính phủ (G2G) Chính phủ với Công dân (G2C) Khách hàng với Khách hàng (C2C) o Khách hàng với Doanh nghiệp (C2B) e Dựa theo hình thức kinh doanh, thương mại điện tử được chia làm 2 loại: o Thương mại điện tử truyền thống o Thương mại điện tự hiện đại + T-commerce (thương mại truyền hình) » M-commerce (thương mại di động) Thị trường thương mại điện tử là thị trường có tính bất đối xứng về thông tin rất lớn.
Việc chênh lệch về thông tin giữa người bán hàng và người mua hàng gây ra rất nhiều rủi ro trong việc giao dịch hàng hóa trên thị trường này. Đây là một vấn đề 11175405 — Nguyễn Thị Hồng Yến 12 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế nhức nhối với các nhà danh nghiệp trực tuyến, khi vừa phải giảm thiểu rủi ro trong giao dịch trực tuyến, vừa phải đảm bảo tăng lượng giao dịch trên các sàn giao dịch điện tử để từ đó giúp tăng doanh thu bán hàng. Đặc trưng của thương mại điện tử So với các hoạt động thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một 36 diém khac biét co ban sau: © Các bên tiến hành giao dich trong thương mai điện tử không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. Trong Thương mại truyền thống, các giao dịch được tiến hành trực tiếp và thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vật lý như chuyên tiền, séc hóa đơn, vận đơn, gửi báo cáo.
Các phương tiện viễn thông như: fax, telex,. chỉ được sử dụng dé trao đôi số liệu kinh doanh. Việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thong chỉ dé truyền tải thông tin một cách trực tiếp giữa các đối tác trong cùng một giao dịch, cho phép mọi người tham gia từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quan hệ quen biét với nhau. e@ Cac giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự ton tại của khái niệm biên giới quốc gia, con thương mại điện tử được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thị trường thong nhất toàn cau).
Thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cau. Việc thương mại điện tử phát triển giúp cho máy tính cá nhân trở thành cửa số cho doanh nghiệp hướng ra ngoài thị trường trên khắp thế giới. e Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham ra của ít nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực. Trong Thương mại điện tử, ngoài các chủ thê tham gia quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba đó là nhà cung 11175405 — Nguyễn Thị Hồng Yến 13 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực.
là những người tạo môi trường cho các giao địch thương mại điện tử. Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyền đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện tử. e Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện dé trao đồi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính la thị trường. Nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành thông qua Thương mại điện tử.
Các trang Web khá nổi tiếng như Yahoo hay Google đóng vai trò quan trọng cung cấp thông tin trên mạng, trở thành các “khu chợ” khổng lồ trên internet. Với mỗi lần nhấn chuột, khách hàng có khả năng truy cập vào hàng ngàn cửa hang ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào thăm rồi mua hàng là rất cao. Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạng một số các loại hàng trước đây được coi là khó bán trên mạng. Nhiều người sẵn sàng trả thêm một chút tiền còn hơn là phải đi tới tận cửa hàng.
Một số công ty đã mời khách may đo quan áo trên mạng, tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số đo theo hướng dẫn tới cửa hàng (qua Internet) rồi sau một thời gian nhất định nhận được bộ quan áo theo đúng yêu cầu của mình. Điều tưởng như không thé thực hiện được này cũng có rất nhiều người hưởng ứng. Khái quát về mỹ phẩm 1. Khái niệm về mỹ phẩm Mỹ phẩm ngày nay đã trở thành một món hàng tiêu dùng không thé thiếu trong giỏ hàng của mọi người, đặc biệt là với chị em phụ nữ.
Phụ nữ dùng mỹ phẩm để chăm sóc và làm đẹp cho bản thân, khiến họ luôn cảm thấy rạng rỡ và tự tin hơn. Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau đề định nghĩa về mỹ phẩm. Ở Mỹ, cục quan lí thực phẩm và được phẩm (FDA) định nghĩa: "Mj phẩm là chất dùng để bôi thoa vào cơ thể người nhằm tẩy sạch, tô điểm, tăng cường độ thu hút hoặc thay đổi diện mạo mà không ảnh hưởng đến cấu trúc hoặc chức năng của cơ thể”. Định nghĩa rộng này bao gồm bat ky chất liệu nào được sử dụng làm thành phần của một sản phẩm mỹ phẩm, trừ xà phòng.
Ở Việt Nam, theo Bộ Y tế quy định thì: “San phẩm mỹ phẩm là một chất hay chế phẩm được sử dụng để tiếp xúc với những bộ 11175405 — Nguyễn Thị Hồng Yến 14 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế phận bên ngoài cơ thể con người (da, hệ thống lông tóc, móng tay, móng chân, môi và cơ quan sinh duc ngoài) hoặc răng và niêm mạc miệng với mục dich chính là dé lam sach, lam thom, thay đổi diện mao, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thé, bảo vệ cơ thể hoặc giữ cơ thể trong điều kiện tot”. Các loại mỹ phẩm phô biến gom CÓ son môi, mascara, phan mat, kem nén, phan má hồng, phan phủ, sữa rửa mặt va sữa dưỡng thé, dau gội, sản pham tạo kiểu tóc (gel vuốt tóc, gôm xịt tóc,. Đặc điểm, đặc tính của mỹ phẩm Thành phân của mỹ phẩm Một loạt các hợp chất hữu cơ và hợp chat vô cơ có trong mỹ phẩm điên hình. Hợp chất hữu cơ điền hình là dầu và mỡ tự nhiên đã tinh chế cũng như một loạt tác nhân có gốc hóa dầu.
Hợp chất vô cơ là những khoáng chất được xử lý như oxit sat, talc và oxit kẽm. Oxit kẽm và sắt được phân loại là sắc tố, nghĩa là chất tao màu không khả năng hòa tan trong dung môi. Tiêu chí phân loại mỹ phẩm Dựa vào tính năng, mục đích sử dụng, thành phần công thức được dùng của sản phẩm và định nghĩa về mỹ phẩm, hiện nay trên thị trường, mỹ phẩm được chia thành 2 loại chính: e Dược mỹ phâm: Là sự kết hợp đan xen giữa “mỹ phẩm” (Cosmetics) và “được pham” (Pharmaceuticals), vừa có tac dụng làm dep, chăm sóc da vừa có tac dụng như thuốc điều trị đối với làn da. Hiện nay Dược mỹ pham đang được biết đến và sử dung rộng rãi trong nhiều ngành hang mỹ pham, đặc biệt là mỹ phẩm ngành spa.