Tổng quan luận án
Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) là một loại hình dịch vụ công đặc thù, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý, bình đẳng trước pháp luật và bảo vệ quyền con người, quyền công dân cho các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội. Tại Việt Nam, hệ thống TGPL chính thức được hình thành từ Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách. Hệ thống thể chế điều chỉnh hoạt động này sau đó được cụ thể hóa bằng Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và tiếp tục được hoàn thiện qua Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018).
Tuy nhiên, từ năm 2010, nguồn hỗ trợ tài chính từ các dự án quốc tế bị cắt giảm đã khiến hoạt động TGPL tại nhiều địa phương gặp khó khăn, đặc biệt đối với các hình thức TGPL lưu động, sinh hoạt câu lạc bộ và truyền thông cơ sở. Thực tiễn áp dụng thể chế bộc lộ nhiều điểm bất cập: một số quy định pháp luật chưa tương thích, phương pháp và hình thức thực hiện chưa đạt hiệu quả mong đợi, đồng thời nhận thức lý luận về phạm vi đối tượng, cách thức tổ chức hệ thống, xã hội hóa và huy động nguồn lực cho TGPL vẫn còn nhiều nội dung chưa đạt được sự đồng thuận. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống từ bình diện lý luận đến thực trạng và giải pháp cho hoạt động TGPL là yêu cầu khoa học cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích, làm sáng tỏ nhận thức lý luận về hoạt động TGPL và yêu cầu điều chỉnh pháp luật về hoạt động TGPL hiện nay.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng pháp luật về hoạt động TGPL và thực tiễn hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay; chỉ rõ những ưu điểm, kết quả, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của thực trạng.
- Nhận diện những vấn đề pháp lý và thực tiễn đang đặt ra đối với hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay.
- Xác định quan điểm và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền con người, chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước và tiến trình cải cách tư pháp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học về hoạt động TGPL; quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam; thực tiễn tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam; kinh nghiệm của một số quốc gia trong xây dựng mô hình và triển khai hoạt động TGPL.
- Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận TGPL theo nghĩa hẹp, tập trung vào trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho các đối tượng thuộc diện chính sách thông qua hệ thống cơ quan nhà nước; xem xét vấn đề xã hội hóa TGPL như một xu hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả. Luận án dành phần lớn dung lượng nghiên cứu khía cạnh hoạt động TGPL; hệ thống tổ chức và công tác quản lý nhà nước chỉ được đề cập ở mức độ liên quan.
- Phạm vi không gian: Dữ liệu và thông tin phản ánh thực trạng hoạt động TGPL trên phạm vi toàn quốc, kết hợp nghiên cứu điển hình tại một số địa bàn thuộc vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát từ thời điểm ban hành Quyết định số 734/TTg (năm 1997) đến thời điểm nghiên cứu, tập trung vào số liệu thực tế trong khoảng thời gian 10 năm gần nhất.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu cho thấy vấn đề TGPL đã thu hút sự quan tâm của giới khoa học pháp lý trong và ngoài nước thông qua nhiều nhóm công trình:
Các công trình nghiên cứu lý luận
- Đề tài khoa học cấp Bộ (2004): "Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng pháp lệnh trợ giúp pháp lý" do Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý và Cục Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp) thực hiện, đặt nền móng ban đầu về khái niệm, nhu cầu và tính tất yếu điều chỉnh pháp luật về TGPL.
- Đề tài khoa học cấp Bộ (2015): "Luận cứ khoa học và thực tiễn sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý" do Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý và Cục Trợ giúp pháp lý thực hiện, tập trung làm rõ lịch sử hình thành, bản chất quyền được TGPL và trách nhiệm của Nhà nước sau Hiến pháp năm 2013.
- Đề án cấp Bộ (2014): "Nghiên cứu mô hình trợ giúp pháp lý trong xu hướng xã hội hóa dịch vụ công" do TS. Dương Thanh Mai chủ nhiệm, phân tích mô hình TGPL gắn với xã hội hóa dịch vụ công và kinh nghiệm quốc tế.
- Sách chuyên khảo: Sách "Quyền con người" (GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, 2011); "Luật Quốc tế về quyền của các nhóm dễ bị tổn thương" (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011); "Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại: Lý luận và thực tiễn" (PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng, 2010); "Báo cáo Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về trợ giúp pháp lý" (Bộ Tư pháp, 2015).
- Các bài báo khoa học và luận án: Nghiên cứu của Tạ Thị Minh Lý (2005, 2006, 2008, 2009), Phan Thị Thu Hà (2006), Lê Quang Kiêm (2010), Dương Quang Long (2009), Nguyễn Văn Tùng (2007), Nguyễn Huỳnh Huyện (2012); cùng các luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thúy (2012), Hoàng Thị Liên (2014), Hồ Minh Hải (2014), Nguyễn Thị Mộng Điệp (2017), Ngô Văn Phát (2017).
- Tài liệu quốc tế: Công trình của Hội đồng dịch vụ trợ giúp pháp lý Hồng Kông (2006), TS. Muralidhar (Ấn Độ), GS. Nghiêm Quốc Hưng (Trung Quốc), Dự thảo Luật mẫu của UNODC; quy định pháp luật của Slovenia (2001), Hàn Quốc, Phần Lan (2002), Lít-va (2005), Indonesia (2011), Hà Lan (1993), Moldova (2007), bang Queensland - Úc (1997).
Các công trình nghiên cứu thực tiễn và giải pháp
- Báo cáo tổng kết thực tiễn: Báo cáo số 158/BC/BTP ngày 30/6/2016 của Bộ Tư pháp tổng kết 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006; Báo cáo của TS. Ngô Đức Mạnh và UNDP trong Dự án VIE/02/2015; sách "10 năm hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hướng phát triển" (2008) và "Cẩm nang tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý" (2009) của Cục Trợ giúp pháp lý.
- Nghiên cứu điển hình và chuyên đề: Đinh Thị Oanh (2008 tại Hòa Bình), TS. Hoàng Văn Nghĩa (2009), Lê Nguyễn Kim Hoàng (2011), Đào Thị Anh Tuyết (2011), Trần Tiến Hải (2012 tại Quảng Bình), Đặng Thị Loan (2009), Nguyễn Việt Khoa (2016 tại Bắc Ninh), Phạm Quang Đại; Báo cáo khảo sát kinh nghiệm tại Philippines (1998), Lít-va (2004), Trung Quốc (2004), Ailen (2013), Hàn Quốc (2013), Úc (2014), Mỹ (2014), Nhật Bản (2015), Argentina (2015) và Báo cáo của Tổ chức hỗ trợ trẻ em Thụy Điển (2002).
- Các đề xuất, kiến nghị: Nghiên cứu của Hằng Vân (2013), Nguyễn Vinh (2010), Đỗ Xuân Lân (2012), Nguyễn Bích Ngọc (2012), Cù Thu Anh (2014).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù số lượng công trình tương đối phong phú, tình hình nghiên cứu trước đó vẫn để lại những khoảng trống:
- Về lý luận: Định nghĩa về hoạt động TGPL chưa được xác lập thống nhất dưới dạng một khái niệm hoàn chỉnh; các đặc điểm của hoạt động TGPL chưa được phân tích toàn diện mà chủ yếu bị giới hạn theo quy định thực định; các yếu tố tác động và điều kiện bảo đảm hiệu quả hoạt động TGPL chưa được hệ thống hóa.
- Về thực trạng: Đánh giá thực trạng hoạt động TGPL chưa được thực hiện toàn diện trong bối cảnh thể chế mới của Hiến pháp năm 2013 và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; nguyên nhân của các hạn chế chưa được luận giải sâu sắc và thiếu các bài học kinh nghiệm đúc kết trực tiếp từ thực tiễn Việt Nam.
- Về giải pháp: Các giải pháp đề xuất ở các công trình trước đây còn thiếu tính liên kết đồng bộ, chưa xây dựng được định hướng chiến lược dài hạn cho mô hình TGPL theo hướng xã hội hóa phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận
Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận sau:
- Các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền lực nhân dân, quyền con người, về nhà nước và pháp luật, mối quan hệ giữa nhà nước, cá nhân và xã hội.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, nhân quyền, tính chất phục vụ của nhà nước, xây dựng pháp luật dân chủ và bảo đảm an sinh xã hội.
- Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền con người, quyền công dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển bền vững.
- Các học thuyết pháp lý - chính trị: Học thuyết Khế ước xã hội, Học thuyết Quyền con người, Học thuyết Nhà nước phúc lợi chung.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
| STT |
Phương pháp nghiên cứu |
Phạm vi áp dụng trong luận án |
Mục đích sử dụng |
| 1 |
Phân tích, tổng hợp |
Toàn bộ các chương của luận án |
Phát hiện, mổ xẻ và luận giải các nội dung lý luận, thực trạng và giải pháp |
| 2 |
Cấu trúc hệ thống |
Chương 2 và Chương 3 |
Nhận diện, phân tích sự vận hành của các yếu tố cấu thành mô hình hoạt động TGPL |
| 3 |
Luật học so sánh |
Chương 2 và Chương 4 |
Đối chiếu các mô hình pháp luật về TGPL trên thế giới nhằm rút ra giá trị tham khảo cho Việt Nam |
| 4 |
Thống kê |
Chương 1 và Chương 3 |
Tập hợp, phân loại tài liệu nghiên cứu và tổng hợp số liệu thực trạng hoạt động TGPL |
| 5 |
Xã hội học |
Chương 2, Chương 3 và Chương 4 |
Đánh giá mối liên hệ nền tảng giữa mô hình hoạt động TGPL với thực tiễn đời sống xã hội |
| 6 |
Lịch sử |
Chương 3 |
Nhận diện quá trình hình thành, các bước tiến trong nhận thức và hoàn thiện thể chế TGPL |
| 7 |
Dự báo khoa học |
Chương 4 |
Đưa ra dự báo về nhu cầu, xu hướng hoàn thiện và phát triển hoạt động TGPL |
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp năm 2013, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Quyết định số 734/TTg và các văn bản hướng dẫn thi hành).
- Các điều ước quốc tế về quyền con người (Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị) và văn bản pháp luật về TGPL của nhiều quốc gia (Slovenia, Trung Quốc, Indonesia, Phần Lan, Hà Lan, Moldova, Úc...).
- Số liệu thống kê, báo cáo chuyên kết quả công tác TGPL của Bộ Tư pháp (đặc biệt là Báo cáo số 158/BC/BTP ngày 30/6/2016) và Cục Trợ giúp pháp lý qua 10 năm khảo sát.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra về đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu về TGPL theo 03 nhóm nội dung chính: (1) Nhóm các nghiên cứu về lý luận; (2) Nhóm các nghiên cứu về thực tiễn thể chế và thi hành; (3) Nhóm các nghiên cứu về giải pháp và kiến nghị. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây đã làm rõ được vai trò nhân đạo, tính tất yếu của TGPL và nhu cầu xã hội hóa, đồng thời tổng kết được thực tiễn thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006.
Từ việc đánh giá tổng quan, chương này xác định 05 vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu:
- Tiếp tục làm rõ những nhận thức lý luận mới về bản chất, khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động TGPL theo tinh thần Nhà nước pháp quyền và quyền con người.
- Luận chứng tính tất yếu và các yếu tố cấu thành mô hình hoạt động TGPL (chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức) cùng các yếu tố tác động, điều kiện bảo đảm hiệu quả.
- Hoàn thiện khung lý thuyết điều chỉnh pháp luật và đánh giá thực trạng pháp luật về TGPL.
- Đánh giá toàn diện thực tiễn hoạt động TGPL tại Việt Nam, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm.
- Xác định quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và điều chỉnh mô hình TGPL.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật
Chương 2 tập trung phân tích các nền tảng lý luận của hoạt động TGPL:
1. Khái niệm hoạt động TGPL:
Phân tích khái niệm TGPL theo nghĩa rộng (dịch vụ pháp lý miễn phí do Nhà nước và xã hội thực hiện) và nghĩa hẹp (dịch vụ pháp lý miễn phí do các tổ chức chuyên trách của Nhà nước cung cấp theo luật định). Phân tích pháp luật quốc tế cho thấy các đặc trưng phổ biến: TGPL là dịch vụ pháp lý, do Nhà nước chi trả và bảo đảm, người thụ hưởng được miễn hoặc giảm phí, và việc thực hiện tuân theo luật định.
Luận án làm rõ 04 thuộc tính bản chất của TGPL:
- Là sự hỗ trợ từ các chủ thể (chủ yếu là Nhà nước) giúp đối tượng thụ hưởng tiếp cận dịch vụ pháp lý.
- Tạo điều kiện cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ pháp lý chuyên môn không phải trả phí hoặc trả phí thấp hơn giá trị thực tế.
- Mang tính bù đắp những thiếu hụt trong cuộc sống do hoàn cảnh xã hội hoặc tình trạng pháp lý gây ra.
- Xuất phát từ trách nhiệm của Nhà nước và trách nhiệm của cộng đồng xã hội.
Từ đó, luận án đưa ra định nghĩa:
"Trợ giúp pháp lý là việc nhà nước và xã hội thông qua hoạt động của các tổ chức chuyên trách TGPL của nhà nước, các cơ quan, tổ chức, cá nhân để thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho những đối tượng nhất định hoặc trong những trường hợp cần thiết nhằm bù đắp, hỗ trợ cho người thụ hưởng, giúp họ có điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật."
Đồng thời, luận án phân định: Quyền được TGPL là quyền năng của cá nhân (thuộc quyền tiếp cận công lý), trong khi hoạt động TGPL là hệ thống và cách thức cung ứng dịch vụ do Nhà nước và xã hội tổ chức thực hiện.
2. Đặc điểm của hoạt động TGPL:
- Tính tổng hòa giữa các yếu tố chính trị, kinh tế và pháp lý: Tính chính trị thể hiện bản chất nhân văn của Nhà nước pháp quyền, công bằng xã hội; tính kinh tế thể hiện ở nguyên tắc cung cấp miễn phí hoặc giảm phí cho người nghèo; tính pháp lý thể hiện ở việc sử dụng công cụ pháp luật, do các chuyên gia pháp luật (luật sư, trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên) thực hiện trong khuôn khổ tố tụng và tư vấn.
- Tính tương tác đặc thù: Hoạt động TGPL vận hành dựa trên quan hệ cung – cầu hai chiều. Tuy nhiên, tính chất nhân văn đòi hỏi người thực hiện TGPL phải chủ động phát hiện, đề xuất và tiếp cận đối tượng. Hoạt động này kết hợp giữa yếu tố tự nguyện và trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc của luật sư.
- Loại hình dịch vụ hành chính công có thể xã hội hóa: TGPL là trách nhiệm của Nhà nước nhưng có thể chuyển giao một phần cho các tổ chức xã hội đủ điều kiện. Khác với xã hội hóa y tế, giáo dục hay công chứng (cho phép thu phí và có lợi nhuận), xã hội hóa TGPL vẫn giữ nguyên tắc hoàn toàn miễn phí cho người thụ hưởng. Nếu lực lượng xã hội không thể đảm đương, Nhà nước không được thoái thác trách nhiệm.
3. Vai trò của hoạt động TGPL:
- Thể hiện bản chất nhân văn của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, gắn liền với chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo và an sinh xã hội.
- Là kênh bảo đảm, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Là phương thức tổ chức và thực hiện pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân và đưa pháp luật vào đời sống thực tế.
Chương này cũng phân tích các yếu tố về chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và các nhân tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động TGPL.
Chương 3: Thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam
Chương 3 khảo sát thực tế thể chế và kết quả thực hiện TGPL tại Việt Nam:
- Thực trạng pháp luật: Phân tích các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; đánh giá sự hoàn thiện về diện người được TGPL, tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý, hình thức thực hiện (tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng) và cơ chế tài chính.
- Thực tiễn triển khai: Dựa trên Báo cáo số 158/BC/BTP và số liệu 10 năm khảo sát, luận án phân tích kết quả tổ chức bộ máy từ Cục Trợ giúp pháp lý đến Trung tâm TGPL nhà nước cấp tỉnh, chi nhánh cấp huyện; đánh giá số lượng vụ việc đã thụ lý và giải quyết; phân tích sự tham gia của tổ chức hành nghề luật sư, cộng tác viên pháp lý. Phân tích rõ tác động của việc cắt giảm kinh phí từ các dự án tài trợ quốc tế sau năm 2010 dẫn đến sự thu hẹp các hoạt động TGPL lưu động và sinh hoạt câu lạc bộ tại cơ sở.
- Đánh giá chung: Chỉ rõ các kết quả đạt được trong việc hỗ trợ bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người nghèo và đối tượng chính sách. Đồng thời phân tích các hạn chế: chất lượng vụ việc chưa đồng đều, tỷ lệ tham gia tố tụng chưa cao ở một số địa phương, công tác truyền thông cơ sở còn hạn chế và cơ chế thu hút nguồn lực xã hội hóa chưa đủ mạnh. Phân tích nguyên nhân chủ quan từ nhận thức, năng lực đội ngũ và nguyên nhân khách quan từ nguồn lực ngân sách, điều kiện địa lý.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Chương 4 đề xuất định hướng và các giải pháp cụ thể:
- Hệ quan điểm định hướng: Nâng cao hiệu quả TGPL gắn liền với bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp năm 2013; phù hợp với định hướng cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính khả thi và tương thích với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
- Hệ thống các nhóm giải pháp:
- Nâng cao nhận thức: Tuyên truyền sâu rộng về bản chất dịch vụ công phi lợi nhuận của TGPL cho cán bộ, cơ quan tiến hành tố tụng và nhân dân.
- Hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành: Triển khai đồng bộ Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật tố tụng, pháp luật an sinh xã hội để tạo sự thống nhất.
- Điều chỉnh mô hình tổ chức và hoạt động: Hoàn thiện mô hình Trung tâm TGPL nhà nước theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, tập trung vào vụ việc tham gia tố tụng.
- Phát triển nguồn nhân lực: Nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý; xây dựng chế độ thù lao và chính sách đãi ngộ hợp lý.
- Đẩy mạnh xã hội hóa: Thiết lập cơ chế Nhà nước ký hợp đồng dịch vụ TGPL với các tổ chức hành nghề luật sư; ban hành quy định cụ thể về nghĩa vụ tham gia TGPL định kỳ của luật sư.
- Đổi mới phương thức phát hiện nhu cầu và truyền thông: Tăng cường phối hợp liên ngành giữa cơ quan TGPL với công an, viện kiểm sát, tòa án và chính quyền cơ sở để kịp thời chuyển gửi đối tượng có nhu cầu.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa các quan điểm nghiên cứu, chuẩn hóa nhận thức lý luận về hoạt động TGPL.
- Xây dựng định nghĩa khoa học hoàn chỉnh về TGPL và hoạt động TGPL; làm rõ 04 thuộc tính bản chất và phân định ranh giới giữa quyền được TGPL với hoạt động TGPL.
- Luận giải sâu sắc 03 đặc điểm cơ bản (tính tổng hòa chính trị - kinh tế - pháp lý, tính tương tác đặc thù, tính dịch vụ công có thể xã hội hóa) và 03 vai trò của hoạt động TGPL trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Phân tích toàn diện khung lý thuyết về chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động TGPL.
-
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành TGPL tại Việt Nam dựa trên dữ liệu khảo sát 10 năm và Báo cáo số 158/BC/BTP của Bộ Tư pháp; làm rõ tác động tiêu cực của việc cắt giảm ngân sách dự án quốc tế sau năm 2010.
- Xác định hệ quan điểm định hướng phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu cải cách tư pháp.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, điều chỉnh mô hình tổ chức, phát triển nguồn nhân lực Trợ giúp viên pháp lý và xây dựng cơ chế xã hội hóa dịch vụ TGPL tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động TGPL theo nghĩa hẹp do hệ thống cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức, do đó chưa đi sâu khảo sát độc lập toàn bộ bộ máy quản lý nhà nước về TGPL. Về không gian, dữ liệu khảo sát chuyên sâu tập trung chủ yếu tại một số địa bàn thuộc vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ trong khung thời gian 10 năm.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Khảo sát, đánh giá tác động thực tế của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 sau một thời gian dài vận hành trong thực tiễn tư pháp.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực trạng và mô hình TGPL chuyên biệt cho vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số và hải đảo.
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bảo đảm chất lượng vụ việc TGPL tham gia tố tụng và cơ chế giám sát thực hiện nghĩa vụ TGPL của luật sư.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan xây dựng chính sách và lập pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện thể chế, sửa đổi các văn bản dưới luật hướng dẫn Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, và lồng ghép chính sách TGPL trong các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững.
- Đối với cơ quan quản lý và tổ chức thực hiện TGPL: Cung cấp tư liệu tham khảo cho Bộ Tư pháp, Cục Trợ giúp pháp lý và các Trung tâm TGPL cấp tỉnh trong việc hoạch định chính sách phân bổ nguồn lực, nâng cao chất lượng đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý, cải tiến quy trình nghiệp vụ và xây dựng cơ chế ký hợp đồng thực hiện TGPL với các tổ chức ngoài nhà nước.
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Tài liệu tham khảo chuyên khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Luật học (Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật Tố tụng, Luật Hành chính) và các chương trình nghiên cứu về quyền con người, an sinh xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm hoạt động trợ giúp pháp lý được luận án xác định như thế nào?
Luận án xác định hoạt động TGPL là việc Nhà nước và xã hội thông qua các tổ chức chuyên trách của Nhà nước cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho các đối tượng nhất định nhằm bù đắp, hỗ trợ người thụ hưởng tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.
2. Hoạt động trợ giúp pháp lý có những đặc điểm cơ bản nào?
Luận án chỉ ra 03 đặc điểm cơ bản: (1) Mang tính tổng hòa giữa các yếu tố chính trị, kinh tế và pháp lý; (2) Là hoạt động tương tác có tính đặc thù dựa trên quan hệ cung - cầu hai chiều và đòi hỏi sự chủ động tiếp cận từ phía người thực hiện; (3) Là loại hình dịch vụ hành chính công thuộc trách nhiệm của Nhà nước nhưng có thể được xã hội hóa theo cơ chế phi lợi nhuận.
3. Vì sao việc xã hội hóa trợ giúp pháp lý khác biệt với xã hội hóa các dịch vụ công khác như y tế hay giáo dục?
Xã hội hóa TGPL khác biệt ở chỗ dịch vụ cung cấp cho người thụ hưởng là hoàn toàn miễn phí; các tổ chức tham gia không được thu phí từ người được trợ giúp hay tìm kiếm lợi nhuận từ họ. Nếu nguồn lực xã hội không đáp ứng được, Nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm chi trả và tổ chức thực hiện, không được thoái thác trách nhiệm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân.
4. Khó khăn thực tiễn nổi bật nào của công tác trợ giúp pháp lý tại địa phương được luận án ghi nhận từ sau năm 2010?
Từ năm 2010, do các nguồn tài trợ tài chính từ các dự án quốc tế bị cắt giảm, hoạt động TGPL tại nhiều địa phương gặp khó khăn lớn về kinh phí, ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì các hình thức TGPL lưu động, hoạt động tập huấn truyền thông và sinh hoạt các Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại cơ sở.
5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào?
Luận án kết hợp 07 phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích, tổng hợp (dùng xuyên suốt); phương pháp cấu trúc hệ thống (Chương 2 và Chương 3); phương pháp luật học so sánh (Chương 2 và Chương 4); phương pháp thống kê (Chương 1 và Chương 3); phương pháp xã hội học (Chương 2, 3 và 4); phương pháp lịch sử (Chương 3); và phương pháp dự báo khoa học (Chương 4).
Kết luận
Luận án "Hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay" là một công trình nghiên cứu toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn đối với dịch vụ trợ giúp pháp lý tại Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm, vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý trong cấu trúc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống an sinh xã hội. Dựa trên việc phân tích các quy định pháp luật và số liệu thực tiễn 10 năm, luận án chỉ rõ các vướng mắc về nguồn lực, nhận thức và cơ chế vận hành hệ thống. Các giải pháp được đề xuất mang tính hệ thống, gắn sát với việc thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng xã hội hóa dịch vụ công, tạo lập nguồn luận cứ khoa học cho công tác lập pháp và hoạt động tư pháp ở Việt Nam.