Đồ án tốt nghiệp khảo sát tối ưu hóa một số thông số của quá trình lên men bioethanol từ vỏ chuối bằng phương pháp sscf sử dụng saccharomyces cerevisiae kết hợp với pichia anomala

Khảo sát tối ưu hóa thông số lên men bioethanol từ vỏ chuối bằng phương pháp SSCF, sử dụng Saccharomyces cerevisiae kết hợp Pichia anomala.

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đồ án tốt nghiệp

2015

99
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu về bioethanol

1.1.1. Khái niệm

1.2. Các thế hệ của bioethanol

1.3. Nguồn nguyên liệu lignocellulose để sản xuất bioethanol

1.4. Ứng dụng lợi ích và hạn chế của Bioethanol

1.5. Quy trình sản xuất bioethanol từ nguồn lignocellulose

1.6. Tình hình sản xuất và tiêu thụ Bioethanol ở tại Việt Nam và trên thế giới

1.7. Tình hình nghiên cứu bioethanol tại Việt Nam và trên thế giới

1.8. Giới thiệu về cây chuối sứ

2. THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA VỎ TRÁI CHUỐI

3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, DIỆN TÍCH VÀ SẢN LƯỢNG CHUỐI TẠI VIỆT NAM

4. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SẢN LƯỢNG CHUỐI TRÊN THẾ GIỚI

5. GIỚI THIỆU CHỦNG NẤM MEN LÊN MEN BIOETHANOL

5.1. Chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae

5.2. Chủng nấm men Pichia anomala

6. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

7. NGUYÊN VẬT LIỆU

8. HÓA CHẤT SỬ DỤNG

9. THIẾT BỊ

10. PHƯƠNG PHÁP

10.1. Bố trí thí nghiệm

10.2. Tiến hành thực hiện

11. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH

11.1. Phương pháp vi sinh

11.2. Phương pháp hóa lý

12. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

12.1. Khảo sát giống nấm men

12.1.1. Nấm men Saccharomyces cerevisiae

12.1.2. Nấm men Saccharomyces cerevisiae

12.2. Khảo sát một số thành phần hóa học của vỏ chuối khô

12.3. Khảo sát tiền xử lý nguyên liệu bằng acid acetic 4%

12.4. Khảo sát thủy phân và lên men đồng thời (SSCF)

12.4.1. Khảo sát thời gian lên men

12.4.2. Khảo sát nhiệt độ lên men

12.4.3. Khảo sát tỷ lệ nấm men

12.4.4. Khảo sát tỷ lệ enzyme

12.4.5. Khảo sát ảnh hưởng của pH

13. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tối ưu hóa quá trình lên men bioethanol từ vỏ chuối

Nghiên cứu tập trung vào tối ưu hóa các thông số của quá trình lên men bioethanol từ vỏ chuối bằng phương pháp SSCF (Simultaneous Saccharification and Co-Fermentation) sử dụng kết hợp hai chủng nấm men Saccharomyces cerevisiaePichia anomala. Vỏ chuối là nguồn nguyên liệu tái tạo giàu lignocellulose, phù hợp cho sản xuất ethanol sinh học. Phương pháp SSCF kết hợp thủy phân và lên men đồng thời, giúp tăng hiệu suất lên men và giảm chi phí sản xuất.

1.1. Khảo sát thành phần hóa học của vỏ chuối

Nghiên cứu tiến hành phân tích các thành phần hóa học của vỏ chuối, bao gồm cellulose, hemicellulose, và lignin. Kết quả cho thấy vỏ chuối chứa hàm lượng cellulose cao (40-60%), là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho sản xuất ethanol. Quá trình tiền xử lý bằng acid acetic 4% giúp giải phóng cellulose, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thủy phân và lên men.

1.2. Tối ưu hóa điều kiện lên men SSCF

Nghiên cứu xác định các thông số tối ưu cho quá trình lên men SSCF, bao gồm thời gian, nhiệt độ, tỷ lệ nấm men, và pH. Kết quả cho thấy thời gian lên men 45 giờ, nhiệt độ 35°C, tỷ lệ nấm men Saccharomyces cerevisiaePichia anomala (1:4), và pH 5.5 là điều kiện lý tưởng để đạt nồng độ ethanol cao nhất. Phương pháp SSCF giúp tăng hiệu suất lên men và giảm thời gian sản xuất.

II. Ứng dụng và lợi ích của bioethanol từ vỏ chuối

Bioethanol từ vỏ chuối là nguồn năng lượng tái tạo có tiềm năng lớn trong việc thay thế nhiên liệu hóa thạch. Nghiên cứu này không chỉ giúp tận dụng chất thải nông nghiệp mà còn góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Bioethanol có thể được sử dụng làm nhiên liệu sạch, giảm phát thải khí nhà kính và hỗ trợ phát triển bền vững.

2.1. Lợi ích môi trường và kinh tế

Việc sử dụng vỏ chuối làm nguyên liệu sản xuất bioethanol giúp giảm lượng chất thải nông nghiệp, đồng thời tạo ra nguồn năng lượng tái tạo giá rẻ. Bioethanol từ vỏ chuối có thể được pha trộn với xăng để tạo ra xăng sinh học, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và giảm phát thải CO2.

2.2. Thách thức và hướng phát triển

Mặc dù có nhiều lợi ích, việc sản xuất bioethanol từ vỏ chuối vẫn gặp một số thách thức như chi phí tiền xử lý cao và hiệu suất lên men chưa ổn định. Nghiên cứu đề xuất cải tiến công nghệ lên men và tối ưu hóa quy trình sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh tế và mở rộng quy mô ứng dụng.

III. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã thành công trong việc tối ưu hóa quy trình lên men bioethanol từ vỏ chuối bằng phương pháp SSCF sử dụng Saccharomyces cerevisiaePichia anomala. Kết quả cho thấy tiềm năng lớn của vỏ chuối trong sản xuất ethanol sinh học, góp phần giải quyết vấn đề chất thải nông nghiệp và phát triển năng lượng tái tạo. Cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện hiệu suất và giảm chi phí sản xuất.

3.1. Kiến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu đề xuất tập trung vào việc cải tiến công nghệ tiền xử lý và tối ưu hóa các thông số lên men để nâng cao hiệu suất sản xuất. Đồng thời, cần mở rộng quy mô thử nghiệm và hợp tác với các doanh nghiệp để đưa công nghệ vào ứng dụng thực tế.

12/02/2025
Đồ án tốt nghiệp khảo sát tối ưu hóa một số thông số của quá trình lên men bioethanol từ vỏ chuối bằng phương pháp sscf sử dụng saccharomyces cerevisiae kết hợp với pichia anomala

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về bioethanol 1. Khái niệm Bioethanol là rượu ethanol sinh học thu được từ quá trình lên men vi sinh các loại nguyên liệu chứa đường hoặc từ tinh bột, cellulose nhờ vào phản ứng trung gian thủy phân thành đường của vi sinh. Bioethanol được tổng hợp thông qua quá trình sinh học, vi sinh sử dụng nguồn nguyên liệu đường làm thức ăn để thực hiện hô hấp kỵ khí và thải ra ethanol và khí CO2.

Trong khi đó, ethanol có nguồn gốc dầu mỏ thì được tổng hợp thông qua quá trình hoá học, không có mặt tham gia của cơ thể sống trong quá trình tạo ethanol. Bioethanol được tạo ra từ rất nhiều nguyên liệu nông nghiệp khác nhau được thể hiện qua hình 1.1: Nguồn nguyên liệu sản xuất bioethanol. Quá trình lên men đường tạo thành ethanol và carbon dioxide thể hiện qua PT1: C6H12O6  2C2H6O + 2CO2 (PT1) Ethanol dùng làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong sẽ bị đốt cháy hòa trộn với oxygen trong động cơ tạo ra carbon dioxide, nước và nhiệt lượng dựa vào PT2: 11 Đồ án tốt nghiệp C2H6O + 3O2  2CO2 + 3H2O + nhiệt lượng (PT2) Tổng hợp 2 phương trình PT1 và PT2 trên ta có: C6H12O6 + 6O2  6CO2 + 6H2O + nhiệt (PT3) Nhiệt lượng sinh ra trong quá trình dùng để chạy máy. CO2 được sinh ra trong quá trình này là carbon trung tính khác với loại khí carbon được tạo thành sau khi đốt các nhiên liệu hóa thạch.

Carbon được tạo ra sau khi đốt các nhiên liệu hóa thạch không nằm trong chu trình carbon nên việc đốt chúng sẽ làm tăng hàm lượng carbon trong không khí gây hiệu ứng nhà kính. Bioethanol có thể được sử dụng như một nhiên liệu lỏng trong động cơ đốt trong do nó có chỉ số octane cao (129), chỉ số octane càng cao thì chỉ số chống gõ tránh được những tiếng gõ làm tổn thương lòng máy. Có thể sử dụng bioethanol nguyên chất hoặc pha chung với xăng dầu. Thông số của bioethanol so với xăng được thể hiện qua bảng 1.

Thông số của bioethanol so với xăng. Nhiên Tỷ Điểm Năng Năng Độ nhớt Chỉ số liệu trọng chớp lượng lượng (mm2/s) octane tương (kg/L) cháy (20OC) (MJ/L) đương Xăng 0,76 0,6 <21 42,7 32,45 92 1 Bioethanol 0,79 1,5 <21 26,8 21,17 129 0,65 ( Nguồn: Paul & Kemnitz 2) Bảng 1. Ước tính chi phí sản xuất bioethanol so với xăng Nguồn sinh khối Chi phí sản xuất (€/L) Xăng 0,25 Bắp Mỹ 0,42 Rơm từ bắp 0,45 – 0,58 12 Đồ án tốt nghiệp Lúa mì Châu Âu 0,27 – 0,43 Củ cải đường Châu Âu 0,32 – 0,54 Mía Brazil 0,16 – 0,28 Mật rỉ đường (Trung Quốc) 0,24 Lúa miến ngọt (Trung Quốc) 0,22 Rơm từ lúa mì (Mỹ) 0,44 Gỗ Vân Sam (gỗ mềm) 0,44 – 0,63 Cây liễu (gỗ cứng) 0,48 – 0,71 Lignocellulose (rác thải sinh 0,11 – 0,32 học) (Nguồn: www.org; Sassner et al, 2008; Abbas, personal communicatio) Để Bioethanol có thể cạnh tranh về kinh tế với nhiên liệu hóa thạch thì chi phí sản xuất phải không lớn hơn 0,2 €/L so với xăng.2 cho thấy nguồn sinh khối lignocellulose có tiềm năng rất lớn trong sản xuất nguồn năng lượng thay thế. (Nguồn: http://oil-price.php?lang=en) Hình 1.

Giá dầu năm năm gần đây. Các thế hệ của bioethanol Bioethanol được chia thành 3 thế hệ chính: 1. Bioethanol thế hệ thứ nhất Bioethanol ban đầu được sản xuất từ ngũ cốc hay mía đường – các sản phẩm giàu tinh bột và các loại đường đơn giản và dễ được lên men thành ethanol. Nhiên liệu sinh học được sản xuất nhờ những nguồn nguyên liệu như trên được gọi là nhiên liệu sinh học thế hệ một.

Việc sản xuất từ những nguồn nguyên liệu này dễ thực hiện do các phân tử tinh bột dễ được phân cắt và lên men. Tuy nhiên những nguồn nguyên liệu kể trên cũng đồng thời là thức ăn cho người và vật nuôi. Do những lo ngại xung quanh vấn đề về an ninh lương thực, đặc biệt sự thiếu hụt lương thực còn dai dẳng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các quốc gia Châu Phi, việc sản xuất ethanol từ các nguyên liệu này vấp phải sự phản đối gay gắt của dư luận ở nhiều nơi. Hạn chế tiếp theo của việc sản xuất bioethanol thế hệ thứ nhất là tạo gánh nặng cho sản xuất nông nghiệp.

Đất nông nghiệp ngày một giảm, không thể cung cấp đủ cho việc sản xuất bioethanol mà không ảnh hưởng đến nguồn cung cấp thực phẩm trong nước và việc cạnh tranh chi phí với các nguồn năng lượng hóa thạch. Thế hệ thứ hai Để khắc phục nhược điểm của bioethanol thế hệ thứ nhất, người ta đã sử dụng nguồn nguyên liệu phế thải hay các loại nguồn nguyên liệu không phải là thực phẩm với khả năng cung cấp bền vững, chi phí thấp và có lợi ích cho môi trường. Bioethanol thế hệ thứ hai được sản xuất từ sinh khối lignocellulose (bộ khung tạo nên tính chất “gỗ” của thực vật) đang trở thành xu hướng hiện nay. Nguồn cung cấp chủ yếu là than cây, rơm rạ cũng như các loại cây trồng không phải cây lương thực như cỏ, jatropha… hay các phế phẩm trong sản xuất nông nghiệp như vỏ chuối, vỏ cacao… với hàm lượng lignocellulose cao.

14 Đồ án tốt nghiệp Tuy nhiên, loại nhiên liệu này cung cấp nguồn năng lượng hiệu suất thấp so với dầu mỏ. Tiết kiệm được chi phí nguyên liệu ban đầu nhưng lại tiêu tốn chi phí cho quá trình tiền xử lý. Bioethanol thế hệ thứ ba Từ rong biển hay còn gọi là tảo người ta có thể sản xuất ra 19000 lít cồn, tức là gấp 5 lần sản xuất cồn từ ngô, và gấp 2 lần năng suất sản xuất cồn từ mía đường. Trong khi ngô hay mía đều đòi hỏi những diện tích canh tác và nguồn nước ngọt lớn, cạnh tranh với các nguồn lực trong nông nghiệp.

Tảo mặt khác có thể sinh trưởng trong nước mặn, có hàm lượng đường cao. Chỉ cần sử dụng chưa tới 3 % diện tích mặt nước ở vùng ven biển là có thể sản xuất đủ lượng tảo để sản xuất cồn. Đặc điểm nổi bật của nhiên liệu từ tảo là không ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt, có thể sản xuất bằng cách sử dụng nước biển và nước thải, tương đối vô hại cho môi trường. Nhưng chi phí cho các dự án sản xuất rất cao nên chỉ dừng ở mức thử nghiệm.

Nguồn nguyên liệu lignocellulose để sản xuất bioethanol Xuất phát từ điều kiện Việt Nam là một nước nông nghiệp có sản phẩm nông nghiệp rất phong phú nên có thể sản xuất ethanol từ các nguồn nguyên liệu khác nhau trong đó lignocellulose là nguồn nguyên liệu phong phú nhất. Các loại cây trồng quay vòng ngắ ạch dương, bạch đàn), các chất thải nông nghiệp (rơm, bã mía, fruit watse.), các phế thả ệp gỗ, gỗ thả ợp để làm nguyên liệu sản xuất bioethanol. Cứ khoảng 2 - 4 tấn vật liệu gỗ khô hoặ ể cho 1 tấn bioethanol [1]. Nguyên nhân khiến người ta chuyển sang sản xuất bioethanol từ sinh khối lignocellulose là vì các loại này sẵn có và rẻ ới các loại tinh bột ngũ cốc hoặc cây trồng khác, đặc biệt là vớ ồn chất thải hầ ế thì vấ ển hóa các vật liệu này sẽ khó khăn hơn.

Nguyên liệu chứa lignocellulose khác nhau có thành phần cấu tạo chất không giống nhau nhưng về cơ bản chúng được cấu tạo từ 3 hợp chất cellulose, 15 Đồ án tốt nghiệp hemicellulose, lignin. Các thành phần cấu tạo nên lignocellulose (cellulose, hemicellulose, lignin) là các đối tượng khó bị phân hủy. Tính khó phân hủy gia tăng lên nhiều lần khi liên kết với nhau và với các thành phần khác nữa tạo thành một thể cấu trúc chặt chẽ và phức tạp. Các vi sợi cellulose, lignin, hemicellulose được sắp xếp theo những nguyên tắc nhất định để hình thành nên cấu trúc vi sợi.

Với cấu trúc nhiều lớp, gồm nhiều thành phần có bản chất hóa học khác nhau như vậy, lignocellulose có độ bền vật lý cao, rất khó xâm nhập đối với các vi sinh vật và enzyme. Hơn nữa để phân hủy bất cứ thành phần nào của phức hợp một cách hiệu quả và triệt để cần phải tác động đến nhiều thành phần khác. Ví dụ, để phân giải lignocellulose thì cần đồng thời tác động của lignin, cellulose và hemicellulose. Cellulose chiếm 40-60% trọng lượng khô.

Công thức phân tử (C6H10O5)n. Là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng tế bào thực vật và là hợp chất chính của nguyên liệu chứa cellulose để sản xuất ethanol. Nguyên liệu càng giàu cellulose thì sản xuất ethanol càng đạt hiệu quả cao. Hemicellulose chiếm 20-40% trọng lượng khô, dễ bị thủy phân hơn so với cellulose.

Khi thủy phân đến cùng, hemicellulose tạo ra các monosaccaride chủ yếu là hexose, pentose. Trong đó hexose có khả năng lên men tạo ethanol còn pentose không có khả năng này. Lignin chiếm 10-25% trọng lượng khô, lignin là một polyphenol có cấ ự ếu đóng vai trò chất liên kết trong thành tế bào thực vật, liên kết chặt chẽ với mạng cellulose và hemicellulose. Rất khó để có thể tách lignin ra hoàn toàn trong quá trình sản xuất ethanol từ cellulose thì nó hoàn toàn không bị thủy phân để tạo các hợp chất có khả năng lên men tạo ethanol.

Vì vậy lignin là thành phần không mong muốn trong quá trình sản xuất ethanol từ cellulose. Ứng dụng lợi ích và hạn chế của Bioethanol 1. Ứng dụng và lợi ích của bioethanol Bioethanol được sử dụng làm nhiên liệu do khi đốt cháy bioethanol cho nhiệt lượng tương đối cao mà không sản sinh ra các chất độc hại. Ngày nay, vấn đề môi trường đang là vấn đề cấp bách, do đó cần có nguồn nhiên liệu sạch để hạn chế vấn đề ô nhiễm.Trong đó xăng sinh học là nguồn nhiên liệu đầy triển vọng trong tương lai.

ếu được nghiên cứu sử ệu, có thể được sử ới dạng nguyên chất (E100), hoặc có thể pha trộn với xăng để tạo ra xăng sinh học. Nế ệ pha trộn dưới 10% ethanol thì không cần thay đổi các động cơ xe thông thường. Xăng sinh học đượ ự “E” kèm theo một con số ố phầ ọc được pha trộn trong xăng đó, các loại xăng sinh học như E5, E20, E95… tức là xăng sinh học chứa 5%, 20%, 95% ethanol. Trộ ệu, tức là thêm oxy vào hỗn hợp nhiên liệu, làm nó cháy hoàn thiện hơn, cải thiện được quá trình cháy và giảm đượ o môi trường.

Khi đốt cháy xăng có pha ethanol, dướ ệ ế 2 và H2O, nhưng thực tế thì CO cũng được sinh ra, tuy nhiên lượng CO thường thấp hơn đối với xăng. Nguyên nhân ethanol có chứa 6% oxygen theo thể tích cho phép động cơ tự đốt cháy nhiên liệu hoàn toàn, kết quả là làm giảm sự Bioethanol là nguồn nhiên liệu có khả năng tái sinh vì được sản xuất từ cây nông nghiệp thu hoạch hàng năm, sử ợng mặt trời là chính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tối ưu hóa quá trình lên men bioethanol từ vỏ chuối bằng SSCF với Saccharomyces cerevisiae và Pichia anomala là một nghiên cứu chuyên sâu về việc sử dụng công nghệ lên men đồng thời (SSCF) để sản xuất bioethanol từ vỏ chuối, một nguồn nguyên liệu sinh khối dồi dào và bền vững. Bài viết tập trung vào việc kết hợp hai chủng vi sinh vật Saccharomyces cerevisiae và Pichia anomala để nâng cao hiệu suất lên men, giảm chi phí sản xuất và tối ưu hóa quy trình. Kết quả nghiên cứu không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần giảm thiểu tác động môi trường từ chất thải nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức về các công nghệ tái tạo và ứng dụng vi sinh trong sản xuất năng lượng, bạn có thể tham khảo thêm các bài viết liên quan như Luận văn thạc sĩ công nghệ nhiệt nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm máy lạnh hấp phụ mặt trời sử dụng cặp môi chất than hoạt tính methanol trong sản xuất nước lạnh, Luận văn thạc sĩ quản lý môi trường nghiên cứu tiềm năng phát triển chứng chỉ giảm phát thải cers từ xử lý nước thải chế biến thủy sản thu hồi biogas tại tỉnh an giang, và Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa dầu cải thiện chất lượng của khí sản phẩm độ sạch và nhiệt trị thu được từ công nghệ khí hóa trấu kiểu updraft thông qua sử dụng xúc tác và khảo sát tối ưu các tác nhân khí hóa gasification agent. Mỗi bài viết đều mang đến góc nhìn sâu sắc và ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và công nghệ sinh học.