MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu: Được xem như giải pháp trong việc giảm tác động đến biến đối khí hau, năng lượng gió — nguồn năng lượng tái tạo và không gây ô nhiễm vì không cần nhiên liệu, không tạo ra độc hại hoặc chất thải phóng xạ [1] - được đánh giá là nguôn năng lượng tái tạo đây hứa hẹn và phát triển trong tương lai, được thê hiện như hình 1. / 1980 1985 1990 [995 2000 2065 2010 2015 2024 Pov Sq kW IU0kW S00kW S00 kW 2MW SMW 75 MW SMW 15-20 MW Diameter 15 m 25m 40 m SO m 800 24m ) 150-2 Height 24m 43m 54 in %0 m 104 m 1i4 m 1§ m 180 m 200-350 im Hình 1. Sự phát triển hệ thong tuabin gió Theo thành phan và theo sự thay đổi tốc độ gió, chúng ta có hệ thống gió năng lượng gió tốc độ cô định (FSWS) và hệ thống năng lượng gió tốc độ thay đối (VSWS) [3].
FSWS có ưu điểm giá thành thấp và không yêu cầu sử dụng bộ chuyền đối công suất. Tuy nhiên, hệ thong có nhược điểm trong việc phải bảo trì hộp số thường xuyên, đặc biệt không tối ưu được công suất [4]. Hệ thống VSWS có nhiều ưu điểm khi hoạt động trên toàn bộ phạm vi tốc độ, không yêu câu sử dụng hộp số, khả năng kết nối mang dé dàng va dễ quản lý. Tuy nhiên, hệ thống cũng có nhược điểm khi khối lượng và chi phí lắp đặt cao [3 A].
Có một vài máy phát sử dụng cho hệ thống năng lượng gió, như: máy phát đồng bộ từ trường nam châm vĩnh cửu (PMSG) va máy phát điện gió cảm ứng kích từ kép (DFIG) [5]. PMSG có một số ưu điểm như không có hộp số, phí bảo trì thấp và dé điều khiến [5,6]. Trong những thập kỷ qua, công nghệ chuyền đổi năng lượng gió đã phát triển nhanh chóng, có nhiều thực nghiệm và tối ưu hóa công nghệ này. Các thuật toán MPPT cũng đã trở thành lĩnh vực nghiên cứu ngày càng phát triển, nâng cao hiệu suất chuyển đổi với giá trị thấp.
Điều rất quan trọng đối với những kỹ thuật này nhằm đáp ứng các yêu câu của bất kỳ hệ thống năng lượng gió độc lập nào. Gan đây, nhiều kỹ thuật MPPT mới đã được dé xuất và sửa doi để đáp ứng những yêu câu của ngành công nghiệp gió và có thể ứng dụng cho bất kỳ hệ thống WECS nào. Các kỹ thuật này sẽ khác nhau ở nhiều khía cạnh như độ phức tap, tốc độ theo dõi, độ khó thực hiện cũng như phan cứng và phan mềm liên quan. Các kỹ thuật sử dụng gan đây nhất để đạt MPPT bao gồm thuật toán nhiễu loan và giám sát (P&0) [7, 8] và điện dẫn gia tăng (INC) [9] đã được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực này.
Các kỹ thuật thông minh như Partical Swarm Optimization (PSO) [10], Logic mờ [11, 12] va mạng no ron nhân tạo (ANN) [13] cũng được sử dụng dé tìm kiếm MPP cho hệ thống WECS. Hơn nữa, các phương pháp kết hợp như P&O và INC được trình bày ở [14]. Trong [15], kỹ thuật kết hợp khác được sử dụng gôm ANN và thuật toán di truyền. Những kỹ thuật khác như hỗ trợ hồi quy vector (SVR) [16] và điều khiến chế độ trượt (SMC) [17] cũng đã được thực hiện.
Trong luận văn này, một phương pháp điều khiển mới dựa trên mối quan hệ giữa tốc độ gió và chu kỳ nhiệm vụ tối ưu (optimal duty cycle) được dé xuất. 2 Sử dụng phần mềm Eureqa [18] dé xây dựng chính xác mô hình toán học và mô hình được mô phỏng thông qua MATLAB/ SIMULINK. Nội dung và phương pháp nghiên cứu: Mục tiêu hướng đến của dé tài là đề xuất giải thuật mới MPPT cho hệ thống turbine gid sử dụng máy phat PMSG. Dé hoàn thành được yêu cau nay, dé tài tiên hành nghiên cứu các nội dung sau: - Tim hiểu hệ thống phát điện gió bao gồm: Turbine gió, máy phát và bộ biến đôi công suất.
- _ Các phương pháp điều khiến trong hệ thống năng lượng gió - Phuong pháp trích xuất công suất cực đại từ turbine gió. Đề tai sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết các van dé liên quan, sau đó đưa ra giải thuật và kiểm chứng tính khả thi của giải thuật bang mô phỏng trên phân mềm MATLAB. CHƯƠNG 2: HE THONG CHUYEN DOI NANG LUONG GIO Nang lượng gió là một trong những nguồn năng lượng thay thé tiềm năng cho tương lai, để giải quyết cuộc khủng hoảng năng lượng mà chúng ta đang phải đối mặt. Chuyên đổi năng lượng gió là một quá trình phức tap.
Từ sự chuyến động của dòng khí quyên, các cánh của turbine gió nhận năng lượng sau đó chuyển thành năng lượng quay của rotor máy phát điện dé chuyên thành năng lượng điện. Thành phan chính của một hệ thống chuyên đổi năng lượng gió cơ bản bao sồm: một turbine gió, một máy phát điện, các bộ phan kết nối và điều khiến hệ thong (hình 2. Mô hình hệ thông chuyển đổi năng lượng gió hòa lưới Tuabin gió có tốc độ thay đổi (VSWTs) được sử dụng rộng rãi trong hệ thống điện và hệ thống chuyển đổi năng lượng gió. Hệ thống VSWT thường sử dụng máy phát cảm ứng kích từ kép (DFIG) hoặc máy phát đồng bộ từ trường nam châm vĩnh cửu (PMSG) [20-22 |.
Hiện tại, do câu trúc đơn giản, chi phí bảo dưỡng thấp, khả năng và hoạt động của MPPT ở hệ số công suất cao, việc sử dụng các WT dựa trên PMSG đã thu hút sự quan tâm [23-27]. Thông thường hệ thông chuyển đổi năng lượng gió với PMSG được kết nối vào lưới thông qua bộ chuyển đổi AC-DC và DC-AC, được gọi như bộ chuyển đổi phía co (MSC) và chuyền đổi phía lưới (GSC) [28]. MSC có thé là bộ điều chế độ rộng xung (PWM), bộ chuyển đối nguồn áp (VSC) hoặc bộ chỉnh lưu cầu diode kèm bộ chuyền đổi tăng áp. Trong khi GSC thường là bộ chuyên đổi nguồn áp VSC.
Chương nay sẽ tìm hiệu vê các thành phân cơ ban của turbine gió và các kỹ thuật điều khiến turbine gió. Turbine gió : Tuabin gió là thiết bị cơ khí được thiết kế đặc biệt để chuyển đối một phan động năng của gió thành năng lượng cơ hữu ích. Một số thiết kế đã được phát triển, tuy nhiên hầu hết chúng bao gồm một Rotor quay tròn băng lực nâng hoặc lực kéo. Tuy thuộc vào vi trí cua rotor, tuabin gió được phân loại thành trục đứng hoặc trục ngang.
Hau hết tuabin gió déu là trục ngang (HAWT) hoạt động theo hướng gió hoặc ngược hướng gid, một số loại có cánh quay xung quanh trục đứng (hình 2. Tuabin gió trục ngang hoạt động theo hướng gió hoặc Hgược hướng gió và tuabin gió trục đứng hoat động ở moi hướng gió. Tuabin gió trục thang đứng thành công nhất là rotor Darrieus được minh hoa hình 2. Tính năng hấp dẫn loại tuabin này là các thiết bị phát và truyền dẫn được đặt ở mặt dat, có thé bắt gió ở bất kỳ hướng nào mà không can bộ định hướng gió.
Tuy nhiên rotor chặn gió có ít năng lượng hơn. Hơn nữa, mặc dù máy phát và truyền dẫn ở mặt đất, bảo trì không đơn giản vì nó thường yêu cau loại bỏ rotor. Gió ở gân bề mặt đất không chi chậm hơn mà cũng hỗn loạn hơn, làm tăng áp lực lên VAWT. Cuối cùng, khi gió có tốc độ thấp cánh quạt Darrieus có momen khởi động rất nhỏ, khi gió có tốc độ cao hơn, công suất dau ra phải được kiểm soát dé bảo vệ máy phát điện, chúng không thé thực hiện được dễ dàng như HAWT.
Trong khi hầu như tất cả các tuabin gió đều thuộc loại trục ngang, thì vẫn còn một số tranh cãi về tuabin gió hoạt động theo hướng gió hay ngược hướng gió tốt hơn. Tuabine gió hoạt động theo hướng gió (downwind HAWT) có lợi thé dé gió tự điều khiến bộ định hướng, tự chuyền động trái — phải chính xác theo hướng gió. Tuy nhiên chúng lại có van dé với hiệu ứng đồ bóng gió của tháp. Dưới tác động của gió, mỗi lần cánh quay phía sau tháp, nó gặp khoảng thời gian ngan giảm gió, làm cánh uốn cong, làm tăng tiếng ôn của cánh và giảm công suât dau ra.
Các tuabin gió hoạt động ngược hướng gió (upwind HAWT) yêu câu kiểm soát hơi phức tạp hơn khi bố sung các hệ thong điều khiến giữ cho cánh quay đón hướng gió. Tuy nhiên, tuabin hoạt động trơn tru và công suất thu được tối đa. Hầu hết các tuabin gió hiện đại đều thuộc loại này. Một yếu tô khác liên quan hiệu suất tuabin gió là số cánh quạt được thiết kế.
Tuabin gió thiết kế nhiều cánh hoạt động tốc độ quay thấp hơn nhiều so với loại có số cánh ít hơn. Khi tốc độ quay của tuabin tăng lên, sự bất ôn cánh quạt trước ảnh hưởng đến hiệu suất cánh quạt sau. Trục quay nhanh hơn, cũng có thé máy phát có kích thước nhỏ hơn về mặt vật lý. Tuabin 3 cánh cho thấy hoạt động mượt hơn và chuyên động rotor chuyền đến trục đều hơn.
Mô hình toán turbine gió: Xét khối khí với khối lượng m (kg), di chuyển với một tốc độ gid vy (m/s) (hình 2. Giả sử rang tat cả các hạt không khí di chuyển với cùng tốc độ và hướng đên chạm vào cánh của trubine. AS D> mM V1 S Ỷ = 2 ¬ Y > Hình 2. Khoi khím qua diện tích A với tốc độ v, Động năng E được tính bởi công thức sau: ] (2.1) E=—my Ww Khối lượng của khối không khí chuyén động trong khoảng thời gian t được tính như sau: m= p.2) Trong đó p (kg/m) là mật độ không khí, A (m’) là diện tích mà khối không khí quét qua turbine gió, R (m) là bán kính của cánh turbine.1) Công thức tính động năng của khối khí: (2.3) E= ' mR vt Từ (2.3) Công suất của gió truyền tới turbine: E 1 " (2.
Từ công thức (2.4) có thé nhận thấy rằng công suất gid tỉ lệ thuận với lập phương của vận tốc gió. Điều này có nghĩa là chỉ cần một sự thay đôi nhỏ của tốc độ gió cũng ảnh hưởng lớn đến công suất đầu ra. D6 thì biéu diễn quan hệ giữa Pyind — Vwind được minh họa như hình 2. Dé thị minh họa P-Vyina Trong công thức (2.4), công suất gió cũng ty lệ với bình phương đường kính cánh tuabin.
Tuy nhiên, theo công thức (2.4) công suất lớn nhất khi khối khí chảy qua toàn bộ diện tích của turbine với bán kính R. Thực tế, chỉ có một phần công suất này được thu bởi turbine gió. Năm 1919 nhà khoa học người Đức Albert Betz mô tả chuyển động của các khối khí khi qua turbine.