CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀTỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẦU CỬ Ở NƯỚC TA 1. Khái niệm “ bầu cử” và “ pháp luật bầu cử” 1. Khái niệm “bầu cử” Bầu cử là một chế định trọng tâm của các chính thể dân chủ đại diện. Chủ quyền nhân dân (quyền lực nhà nước) là bản chất và là đặc trưng các nhà nước và xã hội dân chủ.
Tuy nhiên, việc thực thi chủ quyền nhân dân thì vấn đề lại không đơn giản trong các nhà nước và xã hội. Có hai hình thức cơ bản để thực hiện quyền lực nhân dân là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Dân chủ trực tiếp là việc người dân trực tiếp quyết định các vấn đề của họ, mà không cần qua các đại diện hoặc cơ quan trung gian. Về phương diện lý luận, dân chủ trực tiếp mới thực sự là dân chủ, vì nhân dân trực tiếp quyết định nhưng về phương diện tổ chức thực hiện, dân chủ trực tiếp gặp một khó khăn rất lớn, vì thường xuyên triệu tập hội nghị toàn dân là vấn đề không hề đơn giản, đặc biệt đối với những quốc gia đông dân và rộng lớn.
Bên cạnh đó, rất nhiềucác học giả, chính khách cho rằng chính trị là những công việc phức tạp, không phải và không nên dành cho tất cả dân chúng. Vào thế kỷ XVIII, trong đời sống chính trị thế giới đã xuất hiện lý thuyết đại diện gắn liền với tên tuổi của Locke, Rousseau và Montesquieu. Theo lý thuyết đại diện, quyền lực về nguyên tắc thuộc về nhân dân, nhưng do những nguyên nhân khác nhau, nhân dân không thể trực tiếp thực hiện toàn bộ quyền lực của mình, mà phải ủy thác cho những người đại diện để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân. Rousseau, mặc dù cho rằng dân chủ trực tiếp mới là dân chủ thực sự, nhưng cũng phải thừa nhận rằng đó là một hình thức lý tưởng; nhân dân phải ủy quyền cho người đại diện, mà không thể trực tiếp thực hiện quyền lực Luan van 11 của mình.
Trước hết, bầu cử là sự lựa chọn của nhân dân. Bất cứ ở xã hội nào, quốc gia nào khi nói đến bầu cử là nói đến việc lựa chọn. Tuy nhiên, đối tượng được lựa chọn có thể không giống nhau, điều này do nhiều yếu tố quyết định và tác động. Phổ biến hiện nay trong chế độ bầu cử ở các nước là lựa chọn người người đại biểu trong cơ quan lập pháp.
Cũng có những nước không bầu ứng cử viên độc lập mà họ phải thuộc một đảng phái chính trị hoặc cử tri bầu cho các đảng phái chính trị. Các nước tư sản được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực, vì vậy bầu cử không những là phương thức thành lập cơ quan lập pháp mà còn có thể được áp dụng để bầu các chức danh trong các nhánh quyền lực khác như Tổng thống, các thị trưởng và có thể các chức danh trong các cơ quan tư pháp. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bầu cử là phương thức thành lập ra các cơ quan quyền lực nhà nước. Khác với nhà nước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa không tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực mà quyền lực nhà nước là thống nhất, do đó, đối tượng được bầu cử ở các nước xã hội chủ nghĩa thường chỉ là các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước bao gồm quốc hội (ở trung ương) và hội đồng nhân dân các cấp (ở địa phương).
Ở nước ta hiện nay, bầu cử là phương thức nhân dân trực tiếp bầu ra Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Thứ hai, bầu cử là việc trao quyền (ủy thác quyền lực) của nhân dân cho người được lựa chọn. Điều đó có nghĩa là, thông qua hành vi bỏ phiếu, người dân lựa chọn, đồng thời trao quyền lực của mình cho người mà mình chọn. Ai được cử tri lựa chọn thì người đó nhận được quyền lực từ nhân dân, người đó sẽ có quyền lực của người đại biểu nhân dân dân, còn nhận được bao nhiêu quyền (phạm vi thẩm quyền) - vấn đề này do hiến pháp quy định.
Tóm lại, bầu cử trước hết là một loại hoạt động xã hội mang tính lựa chọn của Luan van 12 con người, nó phát triển cùng với quá trình phát triển của con người và bầu cử ngày càng mang tính chính trị-pháp lý sâu sắc. Trong quốc gia dân chủ, bầu cử là một hoạt động khó có thể thiếu trong cơ chế quyền lực nhân dân.[3,tr15] Từ góc độ khái quát, có thể hiểu: “bầu cử là một quy trình chính trị - pháp lý trong đó người dân tự do bỏ phiếu lựa chọn ra những người vào làm việc trong bộ máy nhà nước để thay mặt mình quản lý xã hội”. Ở một số nước, bầu cử còn được sử dụng để bầu thẩm phán của các tòa án hoặc các quan chức đứng đầu cơ quan hành pháp, ví dụ như bầu cử tổng thống Hoa Kỳ hoặc bầu thị trưởng ở một số quốc gia… 1. Khái niệm “pháp luật bầu cử” 1.
Khái niệm “pháp luật” Pháp luật là một hiện tượng xã hội khách quan, đặc biệt quan trọng nhưng cũng vô cùng phức tạp chính vì vậy mà từ xưa đến nay đã có không ít những cách quan niệm, nhận thức khác nhau về pháp luật. Trên bình diện phổ quát, căn bản nhất và vận dụng vào điều kiện xã hội đương đại, có thể nêu định nghĩa pháp luật như sau: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội”. Khái niệm “chế độ bầu cử” Chế độ bầu cử là một trong những chế định quan trọng nhất, được nghiên cứu Luan van 13 nhiều nhất của Luật Hiến pháp, bởi nó quyết định trực tiếp đến vấn đề tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước - nội dung bản chất, cốt lõi trong Hiến pháp của mọi quốc gia. Ở đây, bầu cử không chỉ là cách thức thành lập, kiểm soát, giám sát bộ máy nhà nước, mà còn là một trong những biện pháp để bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Cũng có nhiều định nghĩa về chế độ bầu cử, tuy nhiên, từ góc độ khái quát, có thể hiểu: “chế độ bầu cử là tổng thể các nguyên tắc, quy định pháp luật nhằm xử lý các mối quan hệ hình thành trong toàn bộ quá trình tiến hành cuộc bầu cử, từ khi chuẩn bị cho đến khi công bố kết quả bầu cử”[4,Tr341] Từ khái niệm “pháp luật”, khái niệm “bầu cử”và khái niệm“chế độ bầu cử”, có thể đưa ra khái niệm về “pháp luật bầu cử” như sau: “Pháp luật bầu cử là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ hình thành trong toàn bộ quá trình tiến hành cuộc bầu cử, từ khi chuẩn bị cho đến khi công bố kết quả bầu cử” Pháp luật về bầu cử của các quốc gia là sự thể chế hóa các quy định về chế độ bầu cử của mỗi nước. Pháp luật bầu cử bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử. Pháp luật bầu cử của mỗi nước khác nhau, phản ánh những đặc thù về truyền thống, về chế độ xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa của mỗi quốc gia. Việc ban hành các chế định pháp luật nhằm hoàn thiện chế độ bầu cử và bảo đảm thực hiện quyền bầu cử của công dân là một trong những chính sách hàng đầu của bất kỳ nhà nước dân chủ nào.
Khái niệm, chủ thể, đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử ở nước ta. Khái niệm “tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử” Luan van 14 Để quản lý xã hội bằng pháp luật và pháp luật có vị trí thượng tôn, việc tổ chức thực hiện pháp luật là một yếu tố rất quan trọng. Một mặt, nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật một cách có hiệu quả, hiệu lực nhất, mặt khác bản thân nhà nước cũng phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật. Hai yếu tố này có mối quan hệ tương hỗ với nhau.
Việc nhà nước tuyệt đối tuân thủ các quy định pháp luật là cơ sở để tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả, hiệu lực. Ngược lại, việc tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả đặt ra yêu cầu tất yếu là nhà nước phải tuân thủ tuyệt đối các quy định của pháp luật.[25,Tr1] Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật là các yếu tố cấu thành cơ bản để duy trì sự tồn tại của đời sống pháp luật; đồng thời thể hiện sống động sự phân công quyền lực nhà nước theo các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của nhà nước pháp quyền. Các yếu tố này cùng tồn tại, tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Công tác tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống chủ yếu thuộc về trách nhiệm và là chức năng của cơ quan hành pháp.
Đó chính là quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực (con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất thực hiện từng văn bản pháp luật) bảo đảm sẵn sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành vi ứng xử của các chủ thể đều phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan.[25,Tr1] Tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử mang tính chất đặc thù, được thực hiện theo nhiệm kỳ, bởi vậy tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử không mang tính thường xuyên liên tục. Hướng dẫn là khâu đầu tiên của quá trình đưa các quy định pháp luật vào cuộc sống. Ở nước ta, hội đồng bầu cử quốc gia tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành Luan van 15 phần, phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.