CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ROBOTS 1. Lịch sử hình thành và phát triển của robot Thuật ngữ “Robot” xuất phát từ tiếng CH Séc (Czech) “Robota” có nghĩa là công việc tạp dịch trong vở kịch Rossum’s Universal Robots của Karel Capek, vào năm 1921. Trong vở kịch này, Rossum và con trai của ông ta đã chế tạo ra những chiếc máy gần giống với con người để phục vụ con người. Có lẽ đó là một gợi ý ban đầu cho các nhà sáng chế kỹ thuật về những cơ cấu, máy móc bắt chước các hoạt động cơ bắp của con người.
Đầu thập kỷ 60, công ty Mỹ AMF (American Machine and Foundry Company) quảng cáo một loại máy tự động vạn năng và gọi là “Người máy công nghiệp” (Industrial Robot). Ngày nay người ta đặt tên người máy công nghiệp (hay robot công nghiệp) cho những loại thiết bị có dáng dấp và một vài chức năng như tay người được điều khiển tự động để thực hiện một số thao tác sản xuất. Về mặt kỹ thuật, những robot công nghiệp ngày nay, có nguồn gốc từ hai lĩnh vực kỹ thuật ra đời sớm hơn đó là các cơ cấu điều khiển từ xa (Teleoperators) và các máy công cụ điều khiển số (NC - Numerically Controlled machine tool). Các cơ cấu điều khiển từ xa (hay các thiết bị kiểu chủ-tớ) đã phát triển mạnh trong chiến tranh thế giới lần thứ hai nhằm nghiên cứu các vật liệu phóng xạ.
Người thao tác được tách biệt khỏi khu vực phóng xạ bởi một bức tường có một hoặc vài cửa quan sát để có thể nhìn thấy được công việc bên trong. Các cơ cấu điều khiển từ xa thay thế cho cánh tay của người thao tác; nó gồm có một bộ kẹp ở bên trong (tớ) và hai tay cầm ở bên ngoài (chủ). Cả hai, tay cầm và bộ kẹp, được nối với nhau bằng một cơ cấu sáu bậc tự do để tạo ra các vị trí và hướng tuỳ ý của Tay cầm và bộ kẹp. Cơ cấu dùng để điều khiển bộ kẹp theo chuyển động của tay cầm.
Vào khoảng năm 1949, các máy công cụ điều khiển số ra đời, nhằm đáp ứng yêu cầu gia công các chi tiết trong ngành chế tạo máy bay. Những robot đầu tiên thực chất là sự nối kết giữa các khâu cơ khí của cơ cấu điều khiển từ xa với khả năng lập trình của máy công cụ điều khiển số. Một trong những Robot Công nghiệp đầu tiên được chế tạo là Robot Versatran của 6 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ ROBOTS công ty AMF, Mỹ. Cũng vào khoảng thời gian này ở Mỹ xuất hiện loại robot Unimate (1900) được dùng đầu tiên trong kỹ nghệ ôtô.
Tiếp theo Mỹ, các nước khác bắt đầu sản xuất robot công nghiệp: Anh (1967), Thụy Điển và Nhật (1968) theo bản quyền của Mỹ, CHLB Đức (1971), Pháp (1972), Ý (1973). Tính năng làm việc của robot ngày càng được nâng cao, nhất là khả năng nhận biết và xử lý. Năm 1967 ở trường Đại học tổng hợp Stanford (Mỹ) đã chế tạo ra mẫu robot hoạt động theo mô hình “mắt-tay”, có khả năng nhận biết và định hướng bàn kẹp theo vị trí vật kẹp nhờ các cảm biến. Năm 1974 Công ty Mỹ Cincinnati đưa ra loại robot được điều khiển bằng máy vi tính, gọi là robot T3 (The Tomorrow Tool: Công cụ của tương lai).
Robot này có thể nâng được vật có khối lượng đến 40 KG. Có thể nói, Robot là sự tổ hợp khả năng hoạt động linh hoạt của các cơ cấu điều khiển từ xa với mức độ “tri thức” ngày càng phong phú của hệ thống điều khiển theo chương trình số cũng như kỹ thuật chế tạo các bộ cảm biến, công nghệ lập trình và các phát triển của trí khôn nhân tạo, hệ chuyên gia… Trong những năm sau này, việc nâng cao tính năng hoạt động của robot không ngừng phát triển. Các robot được trang bị thêm các loại cảm biến khác nhau để nhận biết môi trường chung quanh, cùng với những thành tựu to lớn trong lĩnh vực Tin học - Điện tử đã tạo ra các thế hệ robot với nhiều tính năng đăc biệt, Số lượng robot ngày càng gia tăng, giá thành ngày càng giảm. Nhờ vậy, robot công nghiệp đã có vị trí quan trọng trong các dây chuyền sản xuất hiện đại.
Ứng dụng robot trong sản xuất công nghiệp Từ khi mới ra đời robot công nghiệp được áp dụng trong nhiều lĩnh vực dưới góc độ thay thế sức người. Nhờ vậy các dây chuyền sản xuất được tổ chức lại, năng suất và hiệu quả sản xuất tăng lên rõ rệt. Mục tiêu ứng dụng robot công nghiệp nhằm góp phần nâng cao năng suất dây chuyền công nghệ, giảm giá thành, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồng thời cải thiện điều kiện lao động. Đạt được các mục tiêu trên là nhờ vào những khả năng to lớn của robot như : làm việc không biết mệt mỏi, rất dễ dàng chuyển nghề một cách thành thạo, chịu được phóng xạ và các môi trường làm việc độc hại, nhiệt độ cao, “cảm thấy” được cả từ trường và “nghe” được cả siêu âm.
Robot được dùng thay thế con người trong các trường hợp trên hoặc thực hiện các công việc tuy không 7 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ ROBOTS nặng nhọc nhưng đơn điệu, dễ gây mệt mõi, nhầm lẫn. Trong ngành cơ khí, robot được sử dụng nhiều trong công nghệ đúc, công nghệ hàn, cắt kim loại, sơn, phun phủ kim loại, tháo lắp vận chuyển phôi, lắp ráp sản phẩm… Hình 1.1 Robot hàn Hình 1.2 Robot hàn trong ngành sản xuất oto 8 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ ROBOTS Ngày nay đã xuất hiện nhiều dây chuyền sản xuất tự động gồm các máy CNC với Robot công nghiệp, các dây chuyền đó đạt mức tự động hoá cao, mức độ linh hoạt cao. Ở đây các máy và robot được điều khiển bằng cùng một hệ thống chương trình. Ngoài các phân xưởng, nhà máy, kỹ thuật robot cũng được sử dụng trong việc khai thác thềm lục địa và đại dương, trong y học, sử dụng trong quốc phòng, trong chinh phục vũ trụ, trong công nghiệp nguyên tử, trong các lĩnh vực xã hội… Rõ ràng là khả năng làm việc của robot trong một số điều kiện vượt hơn khả năng của con người; do đó nó là phương tiện hữu hiệu để tự động hoá, nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ cho con người những công việc nặng nhọc và độc hại.
Nhược điểm lớn nhất của robot là chưa linh hoạt như con người, trong dây chuyền tự động, nếu có một robot bị hỏng có thể làm ngừng hoạt động của cả dây chuyền, cho nên robot vẫn luôn hoạt động dưới sự giám sát của con người. 9 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ ROBOTS CHƯƠNG 2: TÍNH TOÁN THIẾT KẾ ROBOT HÀN ĐIỂM 2. Phân tích mục đích ứng dụng robot trong hàn 2.1 Mục đích Mục tiêu ứng dụng robot công nghiệp nhằm góp phần nâng cao năng suất dây truyền công nghệ, giảm giá thành, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời cải thiện điều kiện lao động. Đạt được các mục tiêu trên là nhờ vào khả năng của robot như : làm việc không biết mệt mỏi, làm việc được ở các môi trường mà con người không thể làm được… 2.2 Phương pháp hàn điểm Hàn điểm:Hàn điểm tiếp xúc là một phương pháp liên kết vật liệu, trong đó lượng nhiệt dùng cho mối hàn được sinh ra do điện trở của một dòng điện khi nó truyền qua phần vật liệu được hàn.1: Phương pháp hàn điểm Ưu điểm: Tốc độ nhanh Tạo được liên kết kín 10 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ ROBOTS Năng xuất cao Không cần thêm kim loại phụ trợ,khí bảo vệ Các thiết bị có khả năng tự động hóa cao Không yêu cầu cao đối với người vận hành Có thể hàn các kim loại khác loại Độ tin cậy cao Nhược điểm: Giá thành đầu tư cho một thiết bị hàn điểm và các đồ gá lắp đi kèm lớn.
Nhân viên sửa chữa bảo dưỡng thiết bị hàn và điều khiển yêu cầu phải có trình độ. Đối với một số vật liệu thì có yêu cầu đặc biệt về chuẩn bị bề mặt vật hàn. Không hàn được các chi tiết có chiều dày lớn. Phân tích yêu cầu kĩ thuật Số bậc tự do cần thiết: - Để đảm bảo robot có khả năng đưa đầu mài tới mọi vị trí trong không gian làm việc thì robot cần từ 3 bậc tự do trở lên.
11 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ ROBOTS Thông số kỹ thuật của sản phẩm: Hình 2.3: Tủ điện - Chiều dài: 400 mm - Chiều rộng: 250 mm - Chiều cao: 100 mm Yêu cầu vị trí: Robot thao tác trong không gian đúng với quỹ đạo thao tác đặt ra,tới dúng điểm cần hàn Yêu cầu về hướng: Hướng của đầu mũi hàn phải vuông góc với mặt phẳng chứa điểm hàn Yêu cầu về tải trọng: Do phương pháp hàn điểm không yêu cầu lớn về lực,chỉ yêu cầu về độ linh hoạt và chính xác cao. Một số loại không gian làm việc của robot: 12 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ ROBOTS Hình 2.2 Không gian thao tác Decac Hình 2.4: Không gian thao tác hình trụ và hình cầu 2.3 Các phương án thiết kế Hình 2.2 13 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ ROBOTS Từ những phân tích yêu cầu kĩ thuật trên thì nhóm em đưa ra 3 mô hình robot ứng với 3 không gian làm việc khác nhau.Với mô hình (2.1) là robots 3 bậc tự do TTT,với kết cấu đơn giản nhưng về khả năng linh hoạt không cao. Tương tự với mô hình (2.3) là robots 4 bậc tự do RRTR,với kết cấu đơn giản nhưng về khả năng linh hoạt không cao chỉ hàn được chi tiết có mặt thẳng đứng.Với mô hình (2.2) thì có 5 bậc tự do,khả năng linh hoạt cao có thể hàn các điểm ở các mặt khác nhau nhưng do kết cấu 5 bậc tự do khó khăn trong việc tính toán.Dựa theo hình dạng hình học và vị trí của đối tượng nên nhóm em chọn mô hình (2.3) robot 4 bậc tự do. Thiết kế mô hình: Khâu l (m) m (Kg) Khâu 0 0.16 14 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ ROBOTS Hình 2.5: Mô hình Mô tả: Robots được đặt trong một dây truyền sản xuất,ở công đoạn này robots nhận nhiệm vụ hàn kết nối tại các điểm khác nhau.Trước đó chi tiết đã qua các công đoạn khác nhau cắt phôi,uốn gấp…Ở đâu chi tiết được định vị và kẹp chặt trên băng truyền,và khi tới vị trí hàn thì băng truyền dừng lại và robots thực hiện hàn.Chi tiết đặt trên băng tải cao 0.385 (m) và cách robots 0.
15 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ ROBOTS CHƯƠNG 3: BÀI TOÁN ĐỘNG HỌC 3.1 Bài toán động học thuận Với bài toán động học thuận thì các biến khớp đã biết, yêu cầu tìm vị trí của khâu thao tác.