Chương I Những vấn đề lý luận chung về thuế và thuế GTGT trong nền kinh tế thị trường. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường 1. Bản chất của thuế : 1. Khái niệm : Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao.
Sự vận hành của nền kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị , quy luật cung cầu , quy luật lưu thông tiền tệ .đã bộc lộ những ưu điểm cũng như những khuyết tật của kinh tế thị trường. Để hạn chế và khắc phục những khuyết tật đó ,Nhà nước can thiệp vào quá trình vận hành của nền kinh tế là một đòi hỏi khách quan để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định .Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường là sự can thiệp gián tiếp thông qua các công cụ chủ yếu như : pháp luật , kế hoạch , tổ chức , tài chính, tiền tệ .trong đó ngân sách Nhà nước được coi là công cụ quan trọng nhất của Nhà nước. Mà thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước , nó ảnh hưởng to lớn đến công cuộc phát triển kinh tế. Thuế là một khoản thu của nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, khoản thu đó mang tính bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp, được pháp luật quy định.
Sự xuất hiện của nhà nước đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện cho nhà nước tồn tại và thực hiện chức năng của mình. Nhà nước dùng quyền lực chính trị để ban hành những quy định pháp luật cần thiết làm công cụ phân phối lại một phần của cải trong xã hội và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước. Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội và cơ sở chủ yếu tạo khả năng và nguồn thu để thuế tồn tại và phát triển. Như vậy , thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của nhà nước.
KHOA KẾ TOÁN TÀI CHÍNH 5 Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Bích Ngọc - 34D2 Thuế phát sinh , tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời , tồn tại và phát triển của nhà nước. Thuế được nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước , góp phần điều chỉnh kinh tế và điều hoà thu nhập. của phương thức sản xuất , kết cấu giai cấp là những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới vai trò , nội dung và đặc điểm của thuế khoá. Do đó , cơ cấu và nội dung của cả hệ thống và từng sắc thuế phải được nghiên cứu , sửa đổi bổ sung , cải tiến và đổi mới kịp thời thích hợp với tình hình , nhiệm vụ của từng giai đoạn.
Đồng thời , phải giải quyết tổ chức phù hợp , đủ sức đảm bảo thực hiện các quy định pháp luật về thuế đã được nhà nước ban hành trong từng thời kỳ. Hệ thống thuế được coi là phù hợp không thể chỉ nhìn vào số lượng các sắc thuế nhiều hay Ýt , vào mục tiêu đơn thuần về động viên tài chính mà được phân tích toàn diện mối quan hệ chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế lành mạnh , với đời sồng xã hội không đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân. Thuế mang tính bắt buộc theo pháp luật , không hoàn trả trực tiếp , ngang giá. Một phần số thuế đã nộp cho ngân sách nhà nước được hoàn trả lại người dân một cách gián tiếp dưới những hình thức hưởng thụ các dịch vụ công cộng do nhà nước tạo ra.
Như vậy , ta có thể coi thuế là một biện pháp động viên bắt buộc của nhà nước đối với các thể nhân và pháp nhân nhằm buộc các đối tượng này trích một phần thu nhập do kinh doanh , do lao động , do đầu tư tài chính , do lưu giữ , chuyển dịch tài sản mang lại nộp cho ngân sách nhà nước .2 : Bản chất của thuế : Xuất phát từ nguồn gốc ra đời của thuế và khái niệm chung về thuế , rõ ràng thuế có bản chất kinh tế – chính trị – xã hội rất sâu sắc. - Xét về bản chất kinh tế của thuế. Thuế là một phần của cải của xã hội, được huy động tập trung để phục vụ nhu cầu chi tiêu của nhà nước và đáp ứng các nhu cầu chung khác của toàn xã hội. Bản chất kinh tế của thuế còn thể hiện ở chỗ : Thuế là công cụ phân phối được nhà nước sử dụng để huy động một phần của cải xã hội được sáng tạo ra hàng năm tập trung vào trong tay Nhà nước.
Thuế gắn chặt chẽ với sản xuất kinh doanh và kiểm soát thu nhập của mọi tổ chức và cá nhân để động viên và điều hoà thu nhập , điều tiết kinh tế. Nguồn thu từ thuế cho ngân sách nhà nước chỉ có thể tăng nhiều và nhanh trên cơ sở nền kinh tế được phát triền và đạt hiệu KHOA KẾ TOÁN TÀI CHÍNH 6 Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Bích Ngọc - 34D2 quả cao. Ngược lại qua thu thuế phải góp phần kích thích kinh doanh phát triển , thúc đẩy thực hành tiết kiệm về mọi mặt trong sản xuất tiêu dùng một cách hợp lý để tạo nguồn thu thuế ngày một lớn hơn. Vì vậy nếu nhà nước tăng mức động viên thuế quá cao chỉ nhằm mục đích đơn thuần tăng thu ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi của nhà nước mà bỏ qua yêu cầu đảm bảo sự tăng trưởng về kinh tế thì thường là gặp thất bại , dẫn đến hiệu qủa xấu về nhiều mặt cả về kinh tế – chính trị.
Mức động viên thuế hợp lý sẽ có tác dụng tăng thu cho ngân sách và kích thích sản xuất kinh doanh phát triển - Xét về bản chất chính trị của thuế. Thuế thể hiện quyền lực chính trị của Nhà nước , sự áp đặt của Nhà nước với mọi người dân, bắt mọi người dân phải tuân theo. Thuế ra đời là do sù ra đời của nhà nước. Nhà nước đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị xã hội , do đó bản chất của nhà nước quyết định bản chất của thuế.
Nhà nước mang bản chất giai cấp nên thuế cũng mang bản chất giai cấp. Vì vậy với những nhà nước khác nhau thì bản chất của thuế cũng không giống nhau. Điều đó được Èn chứa bên trong những nội dung chủ yếu là : Thuế thu vào ai ? Thu như thế nào ? Và thu để làm gì ? - Xét về bản chất xã hội : Thuế thể hiện tính xã hội rất rộng rãi. Trước hết thuế thu vào toàn dân , thuế có liên quan tới mọi tổ chức , cá nhân trong xã hội.
Thuế là công cụ để điều tiết và quản lý toàn xã hội, là nghĩa vụ mà người dân phải đóng góp khi sử dụng các dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã tạo ra. Thuế gắn liền với nhà nước , mà trong cơ chế quản lý đất nước ta hiện nay theo công thức “ Đảng lãnh đạo , nhân dân làm chủ , nhà nước quản lý “ thì nhà nước , chỉ có nhà nước là chủ thể duy nhất có chức năng , nhiệm vụ quản lý xã hội mang tính toàn dân , toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và quản lý bằng pháp luật. Thuế là một công cụ có hiệu lực được nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng của mình trong việc quản lý đối với toàn xã hội. Thuế điều chỉnh các quan hệ phân phối , phân phối lại thu nhập của xã hội giữa các tổ chức kinh tế , giữa các tầng lớp dân cư - các quan hệ giữa con người với con người.
Do đó thuế mang tính xã hội rất rộng rãi. Sự giống và khác nhau giữa thuế , phí và lệ phí : Phí và lệ phí ( gọi chung là lệ phí ) do nhà nước quy định gắn liền với các hành động quản lý hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước. KHOA KẾ TOÁN TÀI CHÍNH 7 Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Bích Ngọc - 34D2 Thông thường , lệ phí là khoản thu của nhà nước mang tính bù đắp một phần những chi phí đã chi ra cho các hành động quản lý hành chính của nhà nước , phục vụ trực tiếp một yêu cầu , lợi Ých , nguyện vọng cụ thể của cá nhân hoặc tập thể nhân dân. Từ những nét cơ bản nêu trên về phí và lệ phí ta có thể thấy được sự giống và khác nhau giữa thuế , phí và lệ phí ( lệ phí ) .Giống nhau : - Đều là khoản thu của ngân sách nhà nước.
- Đều là một phần thu nhập của các tổ chức hoặc cá nhân đóng góp cho nhà nước - Mang tính chất ổn định tương đối. - Mức phải nộp được quy định sẵn trong các văn bản của nhà nước ban hành dưới hình thức tỷ lệ hoặc số tuyệt đối. Người nộp có thể biết trước số phải nộp là bao nhiêu. -Việc thu nép mang tính công quản rõ ràng.
- Đều được lược hoá thông qua tiền tệ b.Khỏc nhau ( trang bên ) KHOA KẾ TOÁN TÀI CHÍNH 8 Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Bích Ngọc - 34D2 THUẾ Phí , lệ phí Là luật định , dưới hình thức luật Còng do Nhà nước quy hoặc do cơ quan lập pháp ( Quốc hội định nhưng ở cấp độ khác ) ban hành việc Ên định , ban hành , , dưới hình thức văn bản bãi bỏ , hoặc sửa đổi một số sắc thuế do cơ quan hành pháp phải trải qua những trình tự lập pháp ban hành. Trình tự ban chặt chẽ. hành chặt chẽ, phức tạp như là thuế. Có đối khoản cụ thể Không có đối khoản cụ thể Phí , lệ phí là những Thuế là một khoản thu chủ yếu của khoản thu để làm giảm ngân sách Nhà nước , là công cụ điều việc thu ngân sách nhằm tiết vĩ mô nền kinh tế và điều hoà thu mục đích duy nhất là bù nhập trong xã hội.
đắp một phần chi phí mà Nhà nước đã đầu tư vào các dịch vụ công cộng của Nhà nước .