CHƯƠNG 1 THUẬT TOÁN NHẬN DẠNG TRONG ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI Bộ điều khiển được thiết kế dựa vào những thông tin tin cậy về đối tượng điều khiển. Khi toàn bộ các thông tin đó là không thực tế thì chúng ta có thể tham khảo các thông tin về mô hình đối tượng hoặc mô hình quá trình điều khiển. Từ đó đưa ra các biểu thức rõ ràng về quá trình, sự khác biệt giữa thực tế của quá trình điều khiển và mô hình ước lượng lý thuyết. Mục đích của mô hình là đưa ra những mô tả trung thực về hành vi của quá trình.
Tuy nhiên, các phần ‘’trung thực’’ chỉ cần làm sáng tỏ các hành vi mà mô hình cần cho mục đích sử dụng. Ở đây mô hình cần sử dụng để thiết kế một bộ điều khiển, vậy nên từ ‘’trung thực’’ ở đây có nghĩa là thiết kế bộ điều khiển cho mô hình dưới những xem xét về các điều kiện hoạt động thực tế. Theo truyền thống thì trạng thái của mô hình có thể được đưa ra từ việc phân tích toán học của quá trình lý hóa của đối tượng hoặc từ việc phân tích dữ liệu đo được. Mô hình của điều khiển thích nghi được nghiên cứu chủ yếu theo hướng tiếp cận thứ hai.
Một thuật toán nhận dạng đệ quy thông số của mô hình quá trình là phần không ổn định của mỗi một bộ điều khiển tự điều chỉnh. Vì vậy, rõ ràng là mô hình thu được từ hệ thống dữ liệu quá trình là không phù hợp. Do đó, khi lựa chọn mô hình cho mục đích điều khiển thích nghi, thì cần phải xem xét các giả thiết dưới đây: 1. Đối tượng có khả năng được nhận dạng, có nghĩa là nó có thể được mô hình hóa bằng việc phân tích các giá trị đo đầu vào và đầu ra.
Mô hình phải được lựa chọn từ lớp mô hình dựa trên các thông số đo được. Một tiêu chuẩn để so sánh sự sai khác giữa các kiểu khác nhau của các mô hình từ lớp mô hình được lựa chọn. Sự sai khác này có thể được định nghĩa bằng mối liên hệ cho phép một sự so sánh dữ liệu đo cùng dữ liệu mô hình. Đối với các tiêu chuẩn này thì các điều kiện dưới đây cần phải được thực hiện - Cần đo một cách phù hợp để phát hiện sự khác nhau giữa hành vi mô hình và đối tượng - Phải nhạy với ảnh hưởng ngẫu nhiên và sai lệch - Phải được tính toán một cách dễ dàng 8 Mục đích của chương này là tìm hiểu các cấu trúc cơ bản của điều khiển thích nghi và nghiên cứu các vấn đề của nhận dạng đệ quy cho quá trình cùng với cái nhìn thực tế về khía cạnh thiết kế bộ điều khiển thích nghi tự chỉnh.
Việc lựa chọn mô hình quá trình ngẫu nhiên trong cấu trúc ARX và ARMAX được thảo luận một cách ngắn gọn. Đối với mục đích thực tế thì mô hình ARX được lựa chọn và để thu được thông số ước lượng của mô hình one-off thì phương pháp bình phương tối thiểu được giới thiệu. Một thuật toán đệ quy cho phương pháp này cũng được nghiên cứu. Để đảm bảo sự ổn định số của các tính toán thì lọc số được sử dụng.
Tổng quan về điều khiển thích nghi 1. Sơ lược về điều khiển thích nghi Trong ngôn ngữ ngày nay, thích nghi nghĩa là thay đổi hành vi để cho phù hợp với hoàn cảnh. Bằng trực giác thông thường ta cũng có thể hiểu bộ điều khiển thích nghi là một bộ điều khiển có thể thay đổi hành vi đáp ứng của nó để thay đổi động học của quá trình và đặc tính của nhiễu. Về cơ bản điều khiển phản hồi cũng nhằm mục đích làm giảm ảnh hưởng của nhiễu và mô hình bất định, tuy nhiên sự khác biệt giữa điều khiển phản hồi và điều khiển thích nghi là sự xuất hiện tức thời.
Đã có rất nhiều các cuộc thảo luận để định nghĩa một cách rõ ràng về một hệ thống điều khiển thích nghi. Tuy nhiên, trong đề tài này chúng ta sẽ chấp nhận quan điểm thực tế rằng một bộ điều khiển thích nghi là một bộ điều khiển điều chỉnh được thông số và có một cơ chế để điều chỉnh thông số. Các bộ điều khiển lúc này trở lên phi tuyến bởi vì có cơ chế điều chỉnh thông số, vì vậy chúng có một cấu trúc rất đặc biệt. Bài toán tổng quát về điều khiển phi tuyến rất khó để giải quyết tuy nhiên điều khiển thích chỉ cần được xem xét trong một số lớp đặc biệt của điều khiển phi tuyến.
Hệ thống điều khiển thích nghi có thể tồn tại hai vòng lặp. Một vòng lặp phản hồi thông thường cùng với đối tượng và bộ điều khiển. Một vòng lặp khác là vòng điều chỉnh thông số. Sơ đồ khối của một hệ thống thích nghi được trình bày ở hình 1.
Vòng lặp điều chỉnh thông số thường chậm hơn vòng lặp phản hồi thông thường. Hệ thống điều khiển thích nghi phải được nghiên cứu bởi đặc tính hữu ích của chúng có thể được sử dụng để thiết kế bộ điều khiển và cải thiện hiệu suất và chức năng của hệ thống. Lịch sử phát triển của điều khiển thích nghi Trong các hệ điều khiển tự động truyền thống, các xử lý điều khiển thường dùng mạch phản hồi là chính. Các điều khiển loại này còn tồn tại nhược điểm khó khắc phục là trong quá trình làm việc các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường liên tục bị thay đổi, đồng thời bản thân tham số của hệ cũng bất định dẫn tới chất lượng ra của hệ thống cũng thay đổi theo.
Ngày nay do yêu cầu của thực tế sản xuất, các công nghệ hiện đại đòi hỏi phải có những bộ điều khiển có thể thay đổi được cấu trúc và tham số để đảm bảo chất lượng ra của hệ theo các chỉ tiêu đã định. Với các yêu cầu cao về chất lượng điều khiển các hệ thống điều khiển truyền thống nói chung không đáp ứng được. Dựa trên cơ sở của nền kỹ thuật điện, điện tử, tin học và máy tính đã phát triển ở trình độ cao, lý thuyết điều khiển thích nghi đã ra đời đáp ứng được những yêu cầu trên và được áp dụng mạnh mẽ vào điều khiển các hệ thống lớn. Điều khiển thích nghi khởi đầu là do nhu cầu hoàn thiện các hệ thống điều khiển máy bay.
Do đặc điểm quá trình điều khiển máy bay có nhiều thông số biến đổi và có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quá trình ổn định quỹ đạo bay và tốc độ bay. Ngay từ nhũng năm 1958, trên cơ sở lý thuyết về chuyển động của Bosoocman, lý thuyết điều khiển tối ưu… hệ thống điểu khiển hiện đại này đã được ra đời. Ngay sau khi được ra đời, lý thuyết này đã được hoàn thiện nhưng chưa được thực thi vì số lượng phép tính quá lớn mà chưa có khả năng giải quyết được. Ngày nay nhờ sự phát triển mạnh mẽ của công 10 nghệ thông tin, kỹ thuật điện, điện tử, máy tính…cho phép giải những bài toán đó một cách thuận lợi nên hệ thống điều khiển thích nghi được áp dụng rất rộng rãi vào thực tế.
Hệ điều khiển thích nghi có mô hình mẫu MRAC đã được Whitaker đề xuất vào năm 1958 để giải quyết vấn đề điều khiển lái tự động máy bay. Phương pháp độ nhậy và luật MIT đã được dùng để thiết kế luật thích nghi với mục đích đánh giá các thông số không biết trước trong sơ đồ MRAC. Trong công cuộc điều khiển các chuyến bay do tồn tại nhiều hạn chế như: thiếu phương tiện tính toán, xử lý tín hiệu và lý thuyết cũng chưa thật hoàn thiện. Đồng thời những chuyến bay thí nghiệm bị tai nạn làm việc nghiên cứu lý thuyết điều khiển thích nghi bị lắng xuống vào cuối thập kỷ 50 và đầu thập kỷ 60.
Thập kỷ 60 là thời kỳ quan trọng nhất trong việc phát triển các lý thuyết điều khiển tự động, đặc biệt là lý thuyết điều khiển thích nghi. Kỹ thuật không gian trạng thái và lý thuyết ổn định dựa trên luật Lyapunop đã được phát triển. Một loạt các thuyết như điều khiển đối ngẫu, điều khiển ngẫu nhiên, nhận dạng hệ thống, đánh giá thông số… ra đời cho phép tiếp tục nghiên cứu phát triển và hoàn thiện lý thuyết điều khiển thích nghi. Vào năm 1966 Park và các đồng nghiệp đã tìm được phương pháp mới để tính toán lại luật thích nghi sử dụng luật MIT ứng dụng vào các sơ đồ MRAC của những năm 50 bằng cách ứng dụng lý thuyết của Lyapunop.
Tiến bộ của các lý thuyết điều khiển những năm 60 đã cho phép nâng cao sự hiểu biết về điều khiển thích nghi và đóng góp nhiều vào đổi mới của lĩnh vực này. Những năm 70 sự phát triển của kỹ thuật điện tử và máy tính đã tạo ra khả năng ứng dụng lý thuyết này vào thực tế. Các hệ thống điều khiển thích nghi đã được ứng dụng vào điều khiển các hệ thống phức tạp. Tuy nhiên những thành công của thập kỷ 70 còn gây nhiều tranh luận trong việc ứng dụng điều khiển thích nghi.
Đầu năm 1979 người ta đã chỉ ra rằng sơ đồ MRAC của thập kỷ 70 dễ mất ổn định do nhiễu tác động. Tính bền vững trong điều khiển thích nghi trở thành mục tiêu tập trung nghiên cứu của các nhà khoa học vào những năm 1980. Khi đó người ta xuất bản nhiều tài liệu về độ không ổn định do các khâu động học không mô hình hóa được hoặc do nhiễu tác dụng vào hệ thống. Những năm 80 nhiều thiết kế đã được cải tiến, dẫn đến sự ra đời của điều khiển thích nghi bền vững dùng để điều khiển những đối tượng có thông số không biết trước, biến đổi theo thời gian và trong quá trình làm việc chịu nhiễu tác động.
11 Cuối thập niên 80 có các công trình nghiên cứu về hệ điều khiển thích nghi đặc biệt là MRAC cho các đối tượng có thông số biến thiên theo thời gian tuyến tính. Các nghiên cứu của những năm 90 tập trung vào đánh giá kết quả của nghiên cứu về hệ điều khiển thích nghi những năm 80 đặc biệt là MRAC có các đối tượng có tham số bất định. Các sơ đồ điều khiển thích nghi Trong phần này chúng ta sẽ đi mô tả hai sơ đồ điều khiển thích nghi - Hệ điều khiển thích nghi mô hình mẫu (MRAS) - Hệ điều khiển thích nghi tư chỉnh (STR) 1. Hệ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu (MRAS) Hệ thống thích nghi mô hình chuẩn (MRAS) ban đầu được đề xuất để giải quyết một vấn đề thực hiện theo một kiểu đặc biệt của một mô hình mẫu.
Mô hình này đưa ra đáp ứng đầu ra lý tưởng của quá trình theo một tín hiệu đặt.