Đặt vấn đề: Thời gian khám bệnh, gồm thời gian thực hiện và thời gian chờ đợi là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của cơ sở y tế và sự hài lòng của người bệnh (NB) và người nhà của họ. Tuy nhiên, theo kết quả của một số nghiên cứu, sự lãng phí thời gian trong khám bệnh ngoại trú vẫn tồn tại ở nhiều cơ sở y tế và từ lâu vẫn là vấn đề nổi cộm và thách thức trong nâng cao chất lượng dịch vụ nói chung và trong thúc đây sự hài lòng của NB nói riêng. Do vậy, việc tìm hiểu về thời gian khám bệnh ngoại trú và những yếu tô ảnh hưởng tới thời gian khám của NB là cần thiết nhằm hiểu được thực trạng và đề xuất được các giải pháp phủ hợp rút ngắn thời gian khám, đặc biệt là chờ đợi của NB. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu tìm hiểu “Thời gian khám bệnh ngoại trú tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2022 và một số yếu tổ ảnh hưởng” nhằm 1)Mô tả thời gian khám bệnh ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2022 và; 2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới thời gian khám bệnh ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2022.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Theo đó, một nghiên cứu cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính đã được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2022 tại cơ sở y tế (CSYT) trên.
Tổng số có 300 hồ sơ khám bệnh ngoại trú đã được nghiên cứu và 25 cuộc phỏng vấn sâu đã được thực hiện với NB/người nhà của họ (15) và NVYT của bệnh viện (10). Kết quả và bàn luận: Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trung bình mỗi NB đã dành khoảng 2,5 tiếng cho toàn bộ buổi khám được khảo sát (155,3 + 83,43 phút), trong đó, thời gian chờ đợi trung bình khoảng 1,5 tiếng (91,7 + 68,47 phút) và thời gian thực hiện khám trung bình khoảng 1 tiếng (63,0 + 44,83 phút). Một số yếu tố ảnh hưởng tới thời gian khám bệnh ngoại trú của NB, gồm: thời gian đến khám (buổi sáng/buổi chiều) (p<0,05), tình trạng đặt lịch khám từ trước (p<0,05), loại địch vụ và số lượng hạng mục dịch vụ và NB sử dụng (p<0,05), chuyên khoa khám (p<0,05). Ngoài ra, một số yếu tố khác như: đặc tính chuyên môn của dịch vụ, điều kiện CSVC-TTB, quy trình/thủ tục khám, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám ngoại trú.
cũng ảnh hưởng tới thời gian khám của NB. DAT VAN DE Theo Luật khám bệnh, chữa bệnh, khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng và/hoặc thăm dò chức năng (nếu cần) để chấn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận (5). Đối tượng của khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú là những trường hợp không cần điều trị nội trú hoặc những trường hợp đã điều trị nội trú ôn định nhưng cần theo dõi và điều trị tiếp sau khi ra khỏi cơ sở khám chữa bệnh (5). Khám bệnh là một trong những hoạt động then chốt trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân khi nó cung cấp thông tin và định hướng cho quá trình điều trị bệnh.
Theo Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế (2013), có nhiều tiêu chí đánh giá chất lượng khám bệnh, trong đó có tiêu chí đánh giá “cải tiến quy trình khám bệnh, đáp ứng sự hài lòng của NB”. Hai trong số những tiêu chuẩn quan trọng đề giúp CSYT đạt mức độ 5 ở tiêu chí này là: cơ sở y tế phải tính được thời gian trung bình của một lượt khám tương ứng với các hạng mục dịch vụ mà họ sử dụng và; có áp dụng các giải pháp can thiệp làm giảm thời gian chờ đợi của NB (1). Tuy nhiên, có một nghịch lý là sự lãng phí thời gian một cách vô ích mà chủ yếu đến từ tình trạng quá tải và cơ chế quản lý của các cơ sở y tế vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng chăm sóc sức khỏe cũng như sự hài lòng của khách hàng (2,3,4). Mặc dù đã có một số nghiên cứu tìm hiểu về thời gian mà NB phải đầu tư cho việc khám bệnh, trong đó bao gồm cả thời gian chờ đợi đã được một số tác giả nghiên cứu, đây vẫn là vấn đề nỗi cộm và thách thức với các cơ sở y tế trong nâng cao chất lượng dịch vụ nói chung và trong thúc đầy sự hài lòng của NB nói riêng (2,3,4).
Do vậy, cần tiếp tục tìm hiểu về thời gian khám bệnh của NB (bao gồm cả thời gian chờ đợi) nhằm cung cấp bằng chứng cho những cải thiện đã đạt được (nếu có) trong việc cắt giảm thời gian bị lãng phí của NB và người nhà của họ. Đồng thời, cần xác định được những yếu tố ảnh hưởng tới thời gian khám của họ nhằm đề xuất các giải pháp có giá trị và khả thi trong hành trình tiếp tục giảm thiểu sự lãng phí về thời gian của khách hàng, mà xa hơn là góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân khi mà sự quá tải được giảm thiểu. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc là bệnh viện hạng I và là tuyến điều trị cao nhất của tỉnh Vĩnh Phúc. Số lượt khám trung bình mỗi ngày tăng khoảng 450 lượt khám/ngày vào năm 2016 lên trên 600 lượt ở thời điểm hiện tại (6,7,8).
Mặc dù Lãnh đạo bệnh viện đã triển khai nhiều giải pháp nhằm rút ngắn thời gian khám của NB, tình trạng NB phải chờ đợi lâu vẫn là một trong những vấn đề nổi cộm gây ảnh hưởng tới sự hài lòng của NB với dịch vụ (2). việc đánh giá thời gian khám bệnh và các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian khám của NB là hoạt động then chốt nhằm góp phần nâng cao chất lượng khám bệnh ngoại trú của bệnh viện trong thời gian tới. Do vậy, chúng tôi triển khai đề tài: “Thời gian khám bệnh ngoại trú tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2022 và một số yếu tô ảnh hưởng”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thời gian khám bệnh ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2022. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới thời gian khám bệnh ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2022. TONG QUAN TAI LIEU 1. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1.
Khái niệm khám bệnh Khái niệm khám bệnh: Theo Luật khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 của Quốc hội khóa XII tại Kỳ họp thứ 6 ngày 23 tháng I1 năm 2009, khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thê, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chân đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận (9). Khái niệm khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú: Theo Khoản I Điều 57 Luật khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 của Quốc hội khóa XII tại Kỳ họp thứ 6 ngày 23 tháng II năm 2009, trường hợp được xác định cho khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú là những trường hợp NB không cần điều trị nội trú hoặc những NB sau khi đã điều trị nội trú én định nhưng theo dõi và điều trị tiếp sau khi ra khỏi cơ sở khám chữa bệnh (9). Khái niệm cơ sở khám chữa bệnh * Khải niệm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Theo Luật khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 của Quốc hội khóa XII tại Kỳ họp thứ 6 ngày 23 thang 11 nam 2009, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (9). * Khải niệm bệnh viện: Theo quan niệm mới về bệnh viện, hiện nay bệnh viện không chỉ là nơi khám và điều trị NB mà còn thực hiện những nhiệm vụ khác nữa của một cơ quan quản lý tích cực.
Theo Quy chế bệnh viện ban hành theo quyết định số 1895/1997/ BYT-QĐ ngày 19-9-1997 của Bộ Y tế (10), bệnh viện có những nhiệm vụ sau: Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh Dao tao cán bộ y tế Nghiên cứu khoa học về y học và y tế Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật - Phòng bệnh - Hop tac quéc tế - Quan ly kinh té trong bénh vién * Khai niém khoa kham bénh (10): Khoa khám bệnh là khoa lâm sảng có nhiệm vụ: - _ Tổ chức và tiếp nhận NB đến cấp cứu. - _ Khám bệnh, chọn lọc NB vào điều trị nội trú; thực hiện công tác điều trị ngoại trú và hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ ban dau. - _ Tổ chức khám sức khoẻ định kì, theo dõi tình hình bệnh tật trong vùng dân cư được phụ trách để có biện pháp ngăn ngừa bệnh tật. - Tổ chức dây chuyền khám sức khoẻ theo nhiệm vụ được giao.
Các trưởng khoa điều trị trong bệnh viện phải chịu trách nhiệm về chất lượng khám chuyên khoa, điều trị NB ngoại trú tại khoa khám bệnh; cử cán bộ chuyên khoa có trình độ chuyên môn kĩ thuật thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa, luân phiên 3 đến 6 tháng ra công tác tại khoa khám bệnh Khoa khám bệnh được bồ trí một chiều theo quy định, có đủ thiết bị y tế và biên chế phục vụ theo phân hạng của bệnh viện. Khái niệm thời gian khám bệnh Thời gian khám bệnh là tổng thời gian từ khi NB bắt đầu đăng ký khám bệnh cho đến khi họ hoàn thành thủ tục thanh toán, nhận được đơn thuốc và rời khỏi cơ sở cung cấp dịch vụ (11). Thời gian khám bệnh bao gồm thời gian thực hiện các nội dung khám (thời gian khám lâm sảng, thời gian lấy mẫu xét nghiệm, thời gian chân đoán hình ảnh, thời gian làm thủ thuật, thời gian xử lý các thủ tục liên quan.) và thời gian chờ đợi trong quá trình sử dụng dịch vụ. Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, cơ sở cung cấp dịch vụ nên tính thời gian trung bình của một lượt khám bệnh cho các nhóm NB tương ứng với các hạng mục dịch vụ mà họ sử dụng, bao gồm (1): - Nhom chi kham lâm sảng - Nhom kham 14m sang + xét nghiệm (sinh hóa, huyết học.) -_ Nhóm khám lâm sàng + xét nghiệm + chân đoán hình ảnh -_ Nhóm khám lâm sàng + xét nghiệm + chân đoán hình ảnh + thăm dò chức năng -__ Nhóm khám lâm sàng + khác 1.