CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1.1 Nước sạch – nguồn tài nguyên vô giá: Nước là khởi nguồn của sự sống trên trái đất, đồng thời cũng là nguồn để duy trì sự sống trên Trái Đất. Đối với con người, nước chiếm khoảng 58 – 67% trọng lượng cơ thể người lớn và đối với trẻ em lên tới 70 – 75%, đồng thời nước quyết định tới toàn bộ quá trình sinh hóa diễn ra trong cơ thể sinh vật sống. Tuy vậy, nguồn nước sạch không phải dồi dào như chúng ta vẫn nghĩ. Trên thực tế có tới 97,2% nguồn nước trên trái đất là nước mặn, còn lại 2,15% là băng vĩnh cửu và chỉ có 0,65% là nguồn nước dành cho con người khai thác.
Khi đời sống xã hội tăng cao cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, nhu cầu khai thác hiệu quả nguồn nước này ngày càng cấp thiết. Nguồn nước nhiễm bẩn là một nguy cơ khác cũng vô cùng nguy hiểm: chất bẩn, chất hữu cơ khó hòa tan cùng với sự ô nhiễm đã khiến nguồn nước sạch ngày càng trở nên quý hiếm và khó sản xuất. Nước mang lại cho cơ thể sinh vật sống các khoáng chất cần thiết, nhưng nó cũng ẩn chứa trong đó những tạp chất và kim loại nặng độc hại (Nitrat, Nitrit, Asen, Chì, Thủy ngân, Benzen, Xynua…) cùng với vô vàn những vi khuẩn/virus nguy hiểm (E-coli, Streptococci, Clostridia, Adenovirus, Rheovirus…). Nếu không có các biện pháp xử lý nguồn nước sạch tích cực, sinh vật sống và con người sẽ phải liên tục đối mặt với dịch bệnh, độc tố và tuổi thọ sẽ không thể kéo dài.2 Nước sạch và những con số biết nói tại Việt Nam: 17.000 Việt Nam hiện có khoảng 17,2 triệu người (tương đương 21,5% dân số) đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoan, chưa được kiểm nghiệm hay qua xử lý, theo thống kê của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường.
1 Hệ thống châm chất trợ keo tụ trong xử lý nước – HV: Phan Bảo Quang – MS: 13390448 Điển hình như tỉnh Tiền Giang, chỉ tính riêng xã Hưng Thạnh đã có hơn 50% dân cư vẫn phải dùng nước chưa được an toàn (nước giếng nhiễm phèn, nước sông ngòi ô nhiễm, nước mưa…) cho sinh hoạt hàng ngày.000 Theo thống kê của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên - Môi trường, trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém. Cũng theo đánh giá tổng hợp của Bộ, hằng năm có gần 200.000 người mắc bệnh ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính bắt nguồn từ ô nhiễm môi trường nước. Trên thực tế, một số địa phương như xã Hưng Thạnh, xã Thạnh Tân (Tiền Giang), xã Duy Hòa (Quảng Nam), các ca nhiễm ung thư, viêm nhiễm ở phụ nữ do sử dụng nguồn nước ô nhiễm chiếm đến gần 40% dân cư toàn xã, có nơi lên đến 50%.840 Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia “thiếu nước” do lượng nước mặt bình quân đầu người mỗi năm chỉ đạt 3.840m3, thấp hơn chỉ tiêu 4.000m3/người/năm của Hội tài nguyên nước quốc tế (IWRA). Đây được xem là một nghịch lý đối với một quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc như nước ta.
30% Một kết quả điều tra xã hội học trong cư dân sinh sống trên lưu vực các con sông tại Việt Nam, có đến hơn 30% số người được hỏi về sự ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước sạch đều chưa nhận thức được hết hậu quả nghiêm trọng, dù tình trạng này thường xuyên tác động đến sức khỏe, đời sống cho không chỉ riêng bản thân mà cả gia đình họ. Điều đó cho thấy, nhận thức về tầm quan trọng của nước sạch, thực trạng khan hiếm nước sạch cũng như ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên nước của người Việt Nam chưa cao, đây cũng chính là một trong các tác nhân làm nước sạch đã hiếm lại đang bị hoang phí ở nhiều nơi tại Việt Nam.2 Quy trình xử lý nước cấp: 1.1 Sơ đồ nguyên lý của hệ thống xử lý nước cấp (sử dụng các loại nước bề mặt): Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống xử lý nước cấp (nước bề mặt). Nước bề mặt là nguồn nước được hình thành trên bề mặt Trái Đất, bao gồm nước sông, suối, ao, hồ, kênh, mương,… 2. Nước mặt tự chảy vào ống dẫn nước vào nhà máy.
Trong ống dẫn có gắn song chắn rác và khung lưới quay để cản rác vào nhà máy. Sau đó, nước sẽ được bơm vào nhà máy xử lý. Tại đây, các hạt cặn trong nước sẽ bị keo tụ. Nước chứa keo tụ được dẫn vào bể lắng để các hạt cặn liên kết với nhau tạo bông cặn lớn hơn và lắng xuống đáy bể.
Tiếp theo, nước ở phần trên của bể lắng được dẫn qua bể lọc cát (gồm 3 lớp: than hoạt tính, cát, sỏi) để lọc bỏ cặn. Cuối cùng, nước được khử trùng, thêm Flo và được bơm vào tháp trữ nước, bể chứa ngầm và hệ thống phân phối nước.2 Hóa chất trong xử lý nước cấp: Trong hệ thống xử lý nước cấp, ngoài các khoản đầu tư cố định cho các phần khác (lắng, lọc,…), hệ thống xử lý bằng hóa chất là khoảng đầu tư liên tục. Do tính đặc thù của hóa chất nên các sản phẩm hóa chất thường có giá thành cao khi so sánh tương đối với phần lợi chung về mặt kinh tế, chẳng hạn tính cho một thể tích nước sản xuất nhất định. Đối với riêng việc châm hóa chất keo tụ tạo bông (khâu đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý các hạt lơ lửng cỡ nhỏ hơn 10–4mm) ở Việt Nam hiện nay được thực hiện chủ yếu thông qua thí nghiệm Jar test.
Thí nghiệm Jar test đòi hỏi rất nhiều thời gian và nhân công thực hiện, trong khi đó, kết quả của thí nghiệm Jar test luôn có độ trễ tương đối về mặt thời gian so với điều kiện thực tế. Vì vậy, việc giảm được các chi phí liên quan để quyết định thể tích hóa chất cần châm mang tính cấp thiết cao.3 Quá trình keo tụ - tạo bông và điện thế Zeta : 1.1 Tương tác giữa các hạt mang điện: Chìa khóa dẫn đến sự hiệu quả của quá trình keo tụ tạo bông là việc hiểu quá trình các hạt keo riêng lẻ tác động đến nhau thế nào. Các chất cặn bẩn có kích 4 Hệ thống châm chất trợ keo tụ trong xử lý nước – HV: Phan Bảo Quang – MS: 13390448 thước thông thường rơi vào khoảng 0. Đa phần đối với các hạt lớn, ta có thể dễ dàng sử dụng các phương pháp lắng hoặc lọc.
Nhưng đối với các hạt nhỏ hơn (từ 0.01 đến 5m), thời gian lắng kéo dài và các hạt cũng dễ dàng thoát qua các bộ lọc. Sự tương tác của các hạt keo trong nước chịu nhiều ảnh hưởng từ điện tích của hạt. Mỗi hạt keo cỡ nhỏ đều mang điện tích, thông thường trong tự nhiên là điện tích âm. Do đó, các hạt keo lân cận đẩy nhau và chống lại sự kết tụ tạo thành bông, các chất keo có xu hướng phân tán, rời rạc và ở trạng thái như huyền phù (thể vẩn lơ lửng).2: Các hạt keo mang điện đẩy nhau.
Ngược lại, nếu điện tích đó được giảm đi hoặc loại bỏ, các hạt keo sẽ dễ dàng kết dính với nhau, trước hết là tạo thành nhóm nhỏ, sau đó tạo thành các kết tụ lớn dần và trở thành bông, lắng nhanh chóng và dễ dàng lọc. 5 Hệ thống châm chất trợ keo tụ trong xử lý nước – HV: Phan Bảo Quang – MS: 13390448 Hình 1.3: Các hạt keo liên kết 1.2 Lực tương tác vi lượng: 1.1 Mô hình lớp kép (Double Layer Model): Mô hình lớp kép được dùng để mô tả môi trường ion trong lân cận hạt keo tích điện và giải thích phương thức của các lực tương tác điện giữa các hạt. Trước tiên, ta xem xét tác động của lõi hạt keo (mang điện tích âm) lên các ion dương – gọi là đối ion dương. Ban đầu, ảnh hưởng của lõi mang điện tích âm lên các đối ion dương chung quanh nó, làm cho các đối ion dương bị hút và tạo thành một lớp bao quanh bề mặt của lõi hạt keo – lớp Stern.
6 Hệ thống châm chất trợ keo tụ trong xử lý nước – HV: Phan Bảo Quang – MS: 13390448 Hình 1.4: Mô hình lớp kép Các đối ion dương khác cũng chịu lực hút bởi lõi hạt keo âm, nhưng lúc này, các hạt đối ion dương cũng chịu ảnh hưởng của lớp dương Stern và sự ảnh hưởng lẫn nhau của chúng. Trạng thái cân bằng hình thành một lớp khuếch tán của các hạt ion dương. Mật độ lớp khuếch tán này cao khi ở gần lõi và giảm dần theo khoảng cách cho tới khi đạt trạng thái cân bằng với mật độ cân bằng với mật độ ion dương của môi trường. Ở trường hợp tương tự nhưng ngược lại, các ion âm lại không nằm trong vùng lân cận của lõi hạt keo vì tác dụng đẩy nhau của chúng.
Các ion âm lúc này được gọi là hợp ion âm. Mật độ của các ion âm này tăng dần theo khoảng cách đối với lõi hạt keo tương ứng với tác dụng giảm dần của lõi hạt keo lên chúng, cho tới khi đạt trạng thái cân bằng, với mật độ tương ứng với mật độ ion âm của môi trường. 7 Hệ thống châm chất trợ keo tụ trong xử lý nước – HV: Phan Bảo Quang – MS: 13390448 1.2 Bề dày của lớp kép (Double Layer Thickness) Lớp khuếch tán có thể được xem như một bầu khí quyển tích điện bao bọc lõi hạt keo. Mật độ điện tích phân bố đều theo khoảng cách, càng gần tâm hạt keo càng cao, triệt tiêu khi mật độ hạt ion dương và hạt ion âm bằng nhau.
Lớp Stern chứa các hạt đối ion dương và bầu khí quyển tích điện nói trên được xem như là một lớp kép. Bề dày của lớp kép phụ thuộc vào mật độ ion của môi trường. Số lượng càng nhiều các ion dương trong môi trường để trung hòa lõi hạt keo, bề dày lớp kép càng mỏng. Ngược lại, việc làm giảm đi mật độ ion (chẳng hạn bằng cách pha loãng, …) làm lớp kép dày hơn.
Các loại đối ion dương khác nhau – hóa trị khác nhau cũng ảnh hưởng khác nhau đến bề dày của lớp kép. Chẳng hạn, ion Al+3 có tác dụng rõ rệt hơn so với ion Na+ trong việc trung hòa điện tích âm của lõi hạt keo, và tất nhiên, làm cho lớp kép mỏng đi. Việc làm tăng mật độ ion hoặc hóa trị của chất đều được hiểu là việc làm nén lại lớp kép.5: Biến thiên mật độ ion theo khoảng cách dưới điều kiện mật độ ion trong môi trường thấp và cao.