Chương 1. TỔNG QUAN VỀ BỘ LỌC BỤI TĨNH ĐIỆN 1.1 Giới thiệu chung Khí thải trong công nghiệp là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng với môi trường. Một trong những yếu tố gây ô nhiễm của khí thải công nghiệp là bụi và chính phủ Việt Nam đã ban hành các quy chuẩn về bụi trong trong khí thải công nghiệp bao gồm “QCVN 19:2009/BTNMT quy chuẩn quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ” và “QCVN23:2009/BTMT quy chuẩn quốc gia về khí thải công nghiệp sản xuất xi măng”. Ngày nay, các thiết bị lọc bụi làm sạch khí được nghiên cứu thành công như xiclon, thiết bị lọc túi vải, ống venturi, thiết bị lọc bụi tĩnh điện.
Trong các thiết bị lọc bụi, thiết bị lọc bụi tĩnh điện với những ưu điểm vượt trội được đánh giá mang lại hiệu suất thu bụi cao, và chi phí hoạt động thấp được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, bài toán khi vận hành trong thiết bị lọc bụi tĩnh điện có rất nhiều hiện tượng xảy ra như điện trường giữa các cực, quá trình ion chất khí, phóng điện vầng quang, tích điện cho các hạt bụi… và ảnh hưởng của các nhân tố khác đến thiết bị lọc bụi điện như loại điện cực, khoảng cách các cực, đòi hỏi thiết bị lọc bụi tĩnh điện phải được điều khiển để đạt được hiệu quả làm việc cao nhất. Để đạt được hiệu suất thu bụi cao, đảm bảo cho thiết bị vận hành an toàn, tin cậy, việc xem xét và giải quyết các vấn đề trên là hết sức cần thiết. Nhằm ngày càng nâng cao hiệu suất thiết bị, phát huy những ưu điểm vốn có của thiết bị lọc bụi tĩnh điện.2 Nguyên nhân tạo thành bụi Bụi có trong không khí do nhiều nguyên nhân, ở đây ta chỉ đề cập đến nguyên nhân bụi trong công nghiệp.
Bụi được sinh ra trong không khí chủ yếu do quá trình sản xuất luyện kim, công nghiệp hóa chất, hầm mỏ, nhà máy nhiệt điện… Nguyên nhân tạo thành bụi là do: - Các hạt rắn bị nghiền nhỏ - Khi dùng khí để vận chuyển hạt, các hạt nhỏ bị khí cuốn theo - Trong quá trình ủ hoặc nung vật liệu bị vỡ vụn. 1 Ở một vài quá trình khi tăng nhiệt độ có thể tạo ra khả năng sinh bụi là do giảm liên kết giữa các hạt trong vật rắn. Mặt khác, khi ngưng tụ hơi của các quá trình thăng hoa và các phản ứng hóa học.3 Các phương pháp lọc bụi trong công nghiệp 1.1 Lọc bụi theo phương pháp trọng lực Các hạt bụi đều có khối lượng, dưới tác dụng của trọng lực các hạt có xu hướng chuyển động từ trên xuống dưới (đáy thiết bị lọc bụi). Tuy nhiên, đối với các hạt bụi nhỏ ngoài tác dụng của trọng lực còn có lực chuyển động của dòng khí và lực ma sát môi trường.
Như đã biết các lực này phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó có kích thước hạt bụi do vậy sẽ ảnh hưởng đến tốc độ lắng của hạt bụi. Vì vậy, lọc bụi theo phương pháp trọng lực chỉ áp dụng với hạt bụi có kích thước lớn.2 Lọc bụi theo phương pháp ly tâm Khi dòng chuyển động đổi hướng hay chuyển động theo đường cong, ngoài trọng lực tác dụng lên hạt bụi còn có lực quán tính, lực này lớn hơn nhiều lần so với trọng lực. Dưới ảnh của lực quán tính, hạt có xu hướng chuyển động thẳng nghĩa là các hạt có khả năng tách ra khỏi dòng khí. Hiện tượng này được sử dụng trong các thiết bị lọc bụi Xiclon, tấm chớp, … Các thiết bị này chỉ có khả năng tách bụi có kích thước > 10µm nên dùng để lắng hạt bụi có kích thước nhỏ không hiệu quả.3 Lọc bụi theo phương pháp ẩm Khi hạt bụi tiếp xúc với bề mặt dịch thể (giọt dịch thể) các hạt bụi sẽ bám trên bề mặt dựa trên nguyên tắc đó có thể tách hạt bụi ra khỏi dòng khí.
Sự tiếp xúc với bề mặt dịch có thể xảy ra, dựa trên nguyên tắc đó có thể tách hạt bụi ra khỏi dòng khí. Sự tiếp xúc giữa các hạt bụi với bề mặt dịch thể có thể xảy ra nếu trọng lực tác dụng lên hạt bụi theo hướng đến bề mặt dịch thể. Các lực đó gồm: lực va đập, trọng lực, lực ly tâm (quán tính). Thực nghiệm cho thấy, theo phương pháp này chỉ thu hồi các hạt bụi có kích thước > 3÷5µm.
Các hạt bụi nhỏ, đặc biệt hạt bụi tạo thành do quá trình thăng hoa thì lọc bụi theo phương pháp ẩm sẽ kém hiệu quả do tính chất tự nhiên của các hạt bụi dễ bị bôi trơn bằng dịch thể. Hiện tượng này là do các hạt bụi nhỏ có trong dòng khí, khi gặp dịch thể (giọt dịch thể hay bề mặt ẩm) thì chúng không bị thấm ướt còn chỗ dòng khí bị tiếp xúc với dịch thể các hạt bụi có chuyển động uốn cong nên khả năng thẩm ướt hạt bụi kém.4 Lọc bụi theo phương pháp qua túi vải – màng vải Khí chứa đầy bụi, dẫn qua màng vải, bụi được giữ lại trên đó khi tốc độ khí không lớn. Lọc bụi bằng màng vải được ứng dụng phổ biển trong luyện kim, hóa chất xây dựng. Một số trường hợp cần thu hồi bụi không dùng lọc túi vải mà dùng giấy carton, bông, lớp vật liệu xốp hoặc các vật liệu dạng cục (cát, đá cuội, hạt cốc).
Một số vật liệu trong đó như giấy, bông được áp dụng trong phòng thí nghiệm.5 Lọc bụi tĩnh điện Thiết bị có cấu tạo gồm một dây kim loại nhẵn, có tiết diện nhỏ, được căng theo trục của ống kim loại nhờ có đối trọng. Dây kim loại được nạp dòng điện một chiều có điện thế cao khoảng 50-100kV, còn gọi là cực âm hay cực ion hóa của thiết bị. Cực dương là ống kim loại được bao quanh cực âm và nối đất hay còn gọi là cực lắng. Khi cấp điện thế cao vào cực âm thì tạo ra một điện trường mạnh bên trong ống cực dương và khi dòng khí mang bụi đi qua các phân tử khí sẽ bị ion hóa và truyền điện tích âm cho các hạt bụi do tác dụng va chạm hoặc khếch tán ion.
Các hạt bụi bị nhiễm điện âm sẽ di chuyển về cực dương (cực lắng) và đọng lại trên bề mặt bên trong của ống hình trụ, mất điện tích và rơi xuống phễu thu bụi. Ngoài ra còn có thiết bị lọc bụi tĩnh điện kiểu tấm, là loại thiết bị mà cực dương là các tấm dạng bảng được đặt song song hai bên các cực âm [1]. Phương pháp này có thể đạt hiệu quả lọc lên đến 99,5%. Thiết bị lọc bụi kiểu tĩnh điện rất hiệu quả đối với các loại bụi kích cỡ từ 0,5 đến 8µm.
Khi các hạt bụi có kích cỡ khoảng 10µm và lớn hơn thì hiệu quả giảm. Có thể làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao lên đến 500ºC, làm việc trong phạm vi áp suất cao hoặc áp suất chân không và có khả năng tách bụi có độ ẩm cao, cả dạng lỏng hoặc rắn.4 Nguyên lý làm việc của bộ lọc bụi tĩnh điện Như đã tìm hiểu ở trên, trong các phương pháp lọc bụi thì phương pháp lọc bụi tĩnh điện phù hợp với các nhà máy ở Việt Nam như nhà máy sản xuất xi măng, nhà máy nhiệt điện,. và đạt hiệu quả tối đa cho việc phòng chống ô nhiễm không khí đảm bảo sức khỏe của người dân ở xung quanh khu công nghiệp khi đạt hiệu quả lọc bụi lên đến 99%. Chính vì vậy, phương pháp lọc bụi tĩnh điện sẽ được tác giả lựa chọn để nghiên cứu.1 Nguyên lý tích và lắng bụi trong thiết bị lọc bụi tĩnh điện [2] Hình 1.1 trình bày nguyên lý tích và lắng bụi trong thiết bị lọc bụi tĩnh điện.
Khí thải cần lọc bụi được thổi qua hệ thống hai điện cực: điện cực nối đất được gọi là điện cực lắng vì bụi được lắng chủ yếu trên điện cực này, điện cực thứ hai gọi là điện cực quầng sáng (điện cực phóng), điện cực này được cung cấp dòng điện một chiều có điện thế cao, do điện thế cao nên cường độ điện trường xung quanh có giá trị lớn và gây ra hiện tượng va đập ion mãnh liệt biểu hiện là nhìn thấy một quầng sáng bao phủ xung quanh điện cực này. Tại điện cực phóng, quầng sáng không lan rộng ra toàn bộ không gian giữa hai điện cực mà yếu đi và tắt dần theo phương tới điện cực lắng, điện trường giữa hai điện cực là điện trường không đều, các ion được tạo ra chủ yếu trong vùng quầng sáng [3]. Dưới tác dụng của lực điện trường các ion sẽ dịch chuyển dịch về phía điện cực trái dấu của chúng, ion dương chuyển dịch về phía cực âm (cực quầng sáng), các ion âm dịch chuyền về phía cực dương (cực lắng) sự dịch chuyển dòng khí tạo ra dòng điện thể hiện qua hình 1. Dòng điện này gọi là dòng điện quầng sáng, khi thổi khí thải có chứa bụi bẩn qua không gian giữa hai điện cực thì các ion sẽ bám dính lên bề mặt của các hạt bụi và các hạt bụi đã tích điện sẽ chuyển dịch tới các điện cực trái dấu với điện tích chúng tích được, khi tới các điện cực các hạt bụi được lắng lại trên bề mặt điện cực.
Lượng bụi được lắng chủ yếu trên bề mặt các điện cực lắng. Trên bề mặt các điện cực quầng sáng cũng có lắng bụi lại nhưng lượng bụi này nhỏ không đáng kể so với lượng bụi lắng trên điện cực lắng. Tùy theo mức độ tích tụ bụi trên bề mặt điện cực, hệ thống rung lắc sẽ rung lắc định kỳ các điện cực hoặc xối nước rửa điện cực và lấy bụi [3]. 4 Corona plasma region Unipolar ion region (a<r<ro) r=ro (r>ro) Negative ion Negative ion Gas molecule Discharge electrode e Att.
e e Ion New electron - - - + e e - - + - e Secondary electron + Positive ion Ionization boundary Plasma boundary Grounded electrode E/N = 120 Td E/N = 80 Td Hình 1.2 Sự di chuyển của ion từ cực âm đến cực lắng Ngoài ra, trên thực tế thiết bị lọc bụi tĩnh điện khi hoạt động thường xảy ra quá trình phóng điện khi điện trường vượt ngưỡng nhất định, hoặc sự tích tụ quá lớn các hạt bụi bám trên điện cực lắng. Ngưỡng giới hạn này của thiết bị lọc bụi tĩnh điện phụ thuộc rất nhiều yếu tố bên ngoài mà các yếu tố đó cũng liên quan trực tiếp đến hiệu suất của thiết bị lọc bụi tĩnh điện.