mở đầu thời đại sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hòa bình. Như vậy, Chiến tranh lạnh gần như là một hệ quả tất yếu của tình hình đối đầu, căng thẳng giữa hai phe thời kỳ sau CTTG2. Cuộc Chiến tranh lạnh (hình thành năm 1947 và kéo dài đến 1989) đã có tác động mạnh mẽ tới chính sách đối nội, quan hệ đối ngoại và mậu dịch của hầu hết mọi nước trên thế giới. Chiến tranh lạnh “không tạo lập tất cả nhưng lại định hình rất nhiều thứ”.
Trong chiến tranh lạnh, có thể nhận thấy: cán cân lực lượng giữa Hoa Kỳ và Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết. Trong quan hệ đối ngoại, không một siêu cường nào muốn xâm nhập vào vùng ảnh hưởng của một siêu cường khác; trong kinh tế, những nước kém phát triển chú tâm vào việc phát triển những ngành công nghiệp quốc gia của riêng họ, các nước đang phát triển chú tâm tăng trưởng trên cơ sở xuất khẩu, các nước xã hội chủ nghĩa tập trung thắt lưng buộc bụng và phương Tây thì chăm chăm vào việc buôn bán có điều tiết. Cuộc chạm chán giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giai đoạn hòa hoãn, không liên kết hay cải tổ. Chiến tranh lạnh có khuynh hướng chuyển dịch về dân số : di cư từ Đông sang Tây bị bức màn sắt ngăn trở, nhưng di cư từ miền Nam lên phía Bắc thì đều đặn hơn.
Trên phương diện quốc tế, chiến tranh lạnh chia thế giới được chia thành: phe XHCN, phe TBCN và phe trung lập; nước nào cũng thuộc về một trong những phe này. Chiến tranh lạnh sinh ra những công nghệ chủ đạo như: vũ khí hạt nhân và cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai … “Và sau cùng, Chiến tranh lạnh tạo ra mối lo riêng: “sự hủy diệt hạt nhân”. Không chỉ có vậy, Thomas L. Friedman đã đúng khi khẳng định: “Trước hết, nói về Chiến tranh lạnh là nói đến sự chia cắt.
Thế giới bị chia cắt ngang dọc thành nhiều cánh đồng vụn vặt manh mún”.[47] 20 z Những năm cuối của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến quan trọng. Cùng với quá trình “ toàn cầu hóa” ngày càng sâu rộng thì xu thế đối thoại, hợp tác trở thành dòng chảy chính trong quan hệ quốc tế. Bên cạnh đó, nhân loại cũng được chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng làm biến đổi mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa…của thế giới. Trước hết là Tại khu vực Trung Đông, cuộc chiến tranh I-rắc kết thúc với sự thắng lợi của Mỹ và các nước đồng minh.
Đồng thời với đó Liên xô cũng rút quân khỏi Apganixtan đã củng cố thêm vai trò của Mỹ trong khu vực. Mặc dù giữa người Palextin và Ixraen đã từng ký hiệp định hòa bình nhưng các cuộc xung đột kéo dài ở khu vực bờ Tây sông Jordan và Jerujarem… vẫn thường xuyên xảy ra xung đột và là điểm nóng không chỉ của khu vực mà còn là của cả thê giới. Trên thực tế, Mỹ chỉ muốn công nhận Ixaren là một qốc gia độc lập hơn là một Hiệp định hòa bình với người Palestin. Trong khi đó, người Nga cũng muốn tiếp tục sự hiện diện trong khu vực, do đó vẫn rất nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình cho người ả rập.
Đặc biệt sự xích lại gần nhau giữa các nước lớn, giữa các nươc phương Đông và Tây như Trung Quốc, Liên Xô, Đức, Nước Đức tái thống nhất ( 1990), Liên Xô sụp đổ ( 1991) dẫn đến trật tự thế giới hai cực bị tan rã. Từ đây Mỹ trở thành một siêu cường duy nhất trên thế giới. Sự tan rã của nước Nga và hệ thống các nước XHCN không chỉ là sự chấm hết cho cuộc chiến ý thức hệ và sự giảm nhiệt trong cuộc chạy đua vũ trang giữa phe TBCN và XHCN. Sự tan rã của hệ thống các nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu đã đặt dấu chấm hết cho chiến tranh lạnh hao người, tốn của kéo dài từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Có thể nhận thấy: CTTG 2 đã làm cho tình hình quốc tế có những biến chuyển sâu sắc, định hình cho quan hệ quốc tế và trật tự thế giới mới trong giai đoạn sau. Bối cảnh khu vực Châu Á Sau CTTG 2, khu vực Châu Á có nhiều biến chuyển quan trọng. “Thời kỳ phong trao giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ và lan rộng ở Đông Nam Á, Nam Á và Đông Bắc Á, bước đầu làm xụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ”[39,tr.314] 21 z Từ những năm 1960, Châu Á có bước phát triển đáng kinh ngạc trong nền kinh tế thế giới. Châu Á cuối cùng lại bị các nước khác bắt kịp do cuộc khủng hoảng toàn cầu bắt nguồn từ Mỹ vào tháng 9/2008.
“Năm 2007, châu Á còn chiếm tới 25% GDP thế giới, tức tăng gấp đôi so với năm 1960. Năm 2009, châu Á ngang ngửa với hai khu vực lớn khác của thế giới.[80] Châu Á là khu vực năng động nhất nhưng không đủ tạo ảnh hưởng để kéo theo tất cả các nền kinh tế khác trên hành tinh. Chính nhờ các luồng trao đổi thương mại xuyên thái Bình Dương từ những năm 1975 cho đến khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, đã giúp châu Á có vị trí cao hơn châu Âu và các luồng trao đổi thương mại xuyên Đại Tây Dương. Do đó, chính những lượng hàng hải giữa Bắc Mỹ (Mỹ, Canada, Mexico) và châu Á đã vượt lên trên các luồng giao dịch xuyên Đại Tây Dương (giữa Bắc Mỹ và châu Âu) còn các luồng giao dịch xuyên lục địa (giữa châu Á và châu Âu) đã vượt trên các luồng giao dịch lịch sử xuyên Đại Tây Dương.
Còn một nghịch lý khác ; đó là hai quốc gia lớn “bại trận” là Nhật Bản đã vượt qua Đức khoảng năm 1970 hai nước này trở thành đầu tàu, được tiếp sức bởi các “con rồng” (Hongkong Đài Loan, Hàn Quốc, Singapour), và theo sau các con rồng này là các “con hổ” đi nối duôi nhau như (Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Philippin) trong những năm 1980. Ở khu vực châu Á, được chứng kiến sự lớn mạnh của hàng loạt quốc gia và khu vực như: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapo, Indonesia, Nga, …về tốc độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, an ninh- quốc phòng…Bên cạnh đó, Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan. Đặc biệt là những thành tựu to lớn của Nhật Bản và Trung Quốc từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX. Đối với Trung Quốc, một mặt muốn khẳng định chủ quyền với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, một mặt lo ngại Seoul và Tokyo xích lại gần nhau.
Mỹ cô lập Triều Tiên về đối ngoại, Bắc Kinh chưa đủ tự tin cắt cung cấp dầu thô. An ninh và ổn định ở Đông Bắc Á liên quan đến một sự cân bằng giữa sự răn đe lẫn nhau của liên minh quân sự Nhật-Mỹ và các khả năng quân sự của cá nhân Nga 22 z và Trung Quốc. Hai nhân tố về mặt lý thuyết có thể làm xói mòn sự ổn định này, cụ thể là những sự thay đổi trong tiềm lực quân sự của bất kỳ thành phần nào trong 3 thành phần này (Nhật-Mỹ, Trung Quốc và Nga), và một sự trầm trọng thêm của các xung đột khu vực mà trong đó họ có thể bị dính líu vào một cách không chủ tâm. Nhân tố đầu tiên bao hàm, trên hết, một sự gia tăng rõ rệt trong sức mạnh quân sự của Trung Quốc, cũng như là một liên minh Nhật-Mỹ được củng cố để đáp lại, và các cuộc diễn tập quân sự được tăng cường (phần lớn mang tính biểu tượng) và việc xây dựng quân đội ở vùng Viễn Đông của Nga.
Nhân tố thứ hai này liên quan đến một tranh chấp về các lớp trầm tích dầu lửa ngoài khơi ở Biển Đông và ở biển Hoa Đông. Mỹ có thể bị kéo vào tranh chấp này, do nước này cam kết bảo vệ Nhật Bản trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột quân sự với Trung Quốc, theo hiệp ước an ninh năm 1951. Tại Nhật Bản, sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc lần đầu tiên được nhìn nhận với thái độ ghen tị và sợ hãi về vị thế kinh tế của nước này. Hiện nay, đang có những mối quan ngại về an ninh quân sự của nước này.
Sức mạnh của Trung Quốc đang gia tăng nhanh chóng trên mọi lĩnh vực. “Năm 2010, Trung Quốc đã trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ 2 thế giới về GDP, vượt qua Nhật Bản, nước đã nắm giữ vị thế này trong suốt 40 năm. Đã qua rồi những ngày tháng khi tổng GDP của Mỹ và Nhật Bản chiếm tới 40% nền kinh tế toàn cầu. Hiện nay, tổng GDP của Mỹ và Trung Quốc chiếm hơn 30% GDP toàn cầu (lần lượt là 17,7% và 12,7%).
Cả hai nước đã bỏ lại phần còn lại của thế giới ở xa phía sau, và trong khi đó Nhật Bản có GDP lớn thứ 3 thế giới, ở mức 6,1% trong một tình thế khác biệt”.[80] Trong Hiến pháp Nhật Bản đã nêu: Mối đe dọa Trung Quốc, dù có thực hay là được giả định, tạo ra một vấn đề an ninh lớn ở Đông Á cho thập kỷ tới, có nghĩa là, sự biến đổi của Nhật Bản thành một trung tâm sức mạnh quân sự tự lực mạnh mẽ. Cho đến giờ, việc Nhật Bản từ chối một vai trò quân sự độc lập, được đưa vào Điều 9 của Hiến pháp Nhật Bản, đã là một trong những nhân tố chính tăng cường hòa bình, an ninh, và ổn định ở Đông Á. Nhiều điều đã thay đổi theo 23 z năm tháng. Cục Phòng vệ Nhật Bản, cơ quan từng giữ một vị trí khiêm tốn trong hệ thống của nhà nước, đã chính thức trở thành Bộ Quốc phòng Nhật Bản.
Hội đồng An ninh Quốc gia, mô phỏng theo nguyên bản của Mỹ về cơ cấu và chức năng, đã bắt đầu hoạt động vào tháng 1/2014. Ngân sách quốc phòng Nhật Bản đã không tăng kể từ năm 1997 và trên thực tế còn bị cắt giảm. Từ năm 2013, chi phí này đã tăng lên do những lo ngại từ Trung Quốc. Sau CTTG2, Mỹ thực hiện chiến lược trở lại Châu Á rõ ràng: Truyền thống của Nhật Bản không ủng hộ việc thay đổi từ một cực này sang một cực khác.
Chính sách an ninh hiện đại của Nhật Bản dựa vào 4 trụ cột: củng cố liên minh toàn diện với Mỹ; tăng cường các khả năng phòng thủ của chính mình thông qua một sự diễn giải mở rộng Hiến pháp; phát triển các mối quan hệ quân sự và chính trị với các đối tác tiềm năng để “kiềm chế” Trung Quốc; củng cố sự hiểu biết lẫn nhau với Trung Quốc. Cả 4 lĩnh vực này đều gặp phải những vấn đề riêng.