Chương 1: Những van đề lý luận về quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng và pháp luật về quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của tô chức tín dụng. Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng Thương mại cô phần Công thương Việt Nam. Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền xử lý tài sản bảo đảm tiên vay của tô chức tín dụng. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN XU LÝ TÀI SẢN BAO DAM TIEN VAY CUA TO CHỨC TÍN DUNG VÀ PHAP LUAT VE XU LY TAI SAN BAO DAM TIEN VAY CUA TO CHUC TIN DUNG 1.
Những van dé lý luận về bảo dam tiền vay va quyền xử lý tài san bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng 1. Khái luận về bảo đảm tiền vay và tài sản bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của tô chức tín dụng 1. Khái niệm hoạt động cho vay cua tổ chức tín dụng Trong thực tế, không phải lúc nào nhu cầu về vốn cũng được đảm bảo, đo đó sẽ xuất hiện hoạt động vay mượn. Người cần vốn chính là các cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay mượn.
Khái niệm cho vay hiéu theo nghĩa chung nhất là việc một người thỏa thuận dé cho người khác được quyền sử dụng tài sản của mình trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối với người đó. Trên thực tế chúng ta thường sử dụng thuật ngữ cho vay dé chỉ một quan hệ cấp tín dụng có thê là bằng tiền hoặc bằng tài sản giữa một tô chức, cá nhân này với một tô chức, cá nhân khác. Trong quan hệ tài chính thì cho vay có thê hiểu theo các nghĩa sau: Cho vay là sự chuyên nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu[59:I 129]. Trong một méi quan hệ tài chính cụ thé cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thé trong đó một bên chuyên giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn cho bên cho vay vô điều kiện theo thời hạn thỏa thuận.
Từ những quan điểm trên theo tác giả cho vay có thé được hiểu là sự chuyển dịch tạm thời một lượng giá trị là tiền hoặc tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi. Ngày nay, cho vay là một hoạt động truyền thống và chủ yếu của các tô chức tín dụng. Thông qua hoạt động cho vay các TCTD thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế đưới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xã hội dé đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống [27;12]. Bản chất của cho vay là một giao dịch về tiền hoặc tài sản trên cơ sở có hoàn trả mà thực chất là sự vay mượn dựa trên sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau.
Khái niệm cho vay đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau theo đó cho vay dưới góc độ pháp luật ngân hàng được định nghĩa là một trong những hoạt động cấp tín dụng của TCTD, trong đó bên cho vay (trong trường hợp này là các tổ chức tín dung) giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Từ kết qua phân tích nêu trên, có thé cho rằng hoạt động cho vay của tô chức tín dụng là một khía cạnh quan trọng của ngành ngân hang và tai chính. Day là quá trình tô chức tin dụng (ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác) cung cấp tiền cho cá nhân hoặc doanh nghiệp theo các điều kiện và thỏa thuận cụ thé. Điều kiện cho vay bao gồm lãi suất, thời hạn, số tiền tối đa mà một người có thé vay, và các điều khoản bồ sung.
Tổ chức tín dụng phải quản lý rủi ro liên quan đến hoạt động cho vay bang cách đánh giá và kiểm soát mức độ nợ xấu [29;6]. Hoạt động cho vay của tô chức tín dụng có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ kinh tế và tài chính, giúp cá nhân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài chính dé đáp ứng nhu cầu cá nhân và phát triển kinh doanh. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra những thách thức về quản lý rủi ro và tuân thủ các quy định tài chính. Khái niệm, đặc điểm, phân loại giao dịch bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng Trong đời sống xã hội, giao dich bảo đảm được biết đến như là phương thức dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyên.
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thé được áp dụng theo quy định của pháp luật và/hoặc theo thỏa thuận giữa các chủ thé nham cung cấp một giải pháp có tính chất dự phòng để bảo đảm cho việc thực hiện đúng nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể là bên có quyền trong các giao dịch dân sự, thương 10 mại. Theo quy định, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chính là việc một bên (sau đây gọi là bên bảo đảm) sử dụng tài sản hoặc sử dụng uy tín/cam kết của mình dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của chủ thể khác (sau đây gọi là bên được bảo đảm) với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo đảm). Trong trường hợp bên có nghĩa vụ vì lý do nào đó không thực hiện được nghĩa vụ của mình thì bên có quyên sẽ được phép xử lý tài sản dé khấu trừ giá trị nghĩa vụ (nếu sử dụng tài sản để bảo đảm) hoặc có quyền yêu cầu bên bảo đảm thực hiện nghĩa bảo đảm đã cam kết (nếu dùng uy tín/cam kết dé bảo dam) [53; 15]. Trong pháp luật thực định ở Việt Nam hiện nay, Điều 292 BLDS năm 2015 quy định theo hướng thừa nhận 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bao gồm: Cam cé tai san, thé chap tai san, dat coc, ky cugc, ky quy, bao luu quyén sở hữu, cam giữ tài sản, bảo lãnh, tín chấp.
Nếu xét về tính chất đối vật và đối nhân, thì biện pháp bảo đảm còn có thé được chia thành hai nhóm là: (i) Nhóm các biện pháp bảo đảm bằng tài sản (đối tượng của biện pháp bao đảm là tài sản như vật, tiền, giấy tờ có giá, các quyền tài sản): Cầm có tai sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ tài sản. (ii) Nhóm các biện pháp bảo đảm không dùng tài sản (đối tượng của biện pháp bảo đảm là uy tín cam kết của bên bảo đảm): Bảo lãnh, tín chấp. Tài sản bảo đảm (TSBĐ) là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong hệ thống các văn bản pháp luật nói chung, các văn bản dưới luật nói riêng và các văn bản trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Trong BLDS năm 2005, tài sản bảo đảm được đề cập đến tại Điều 320, 321 và 322 thông qua việc liệt kê các dạng tài sản cụ thé bao gom "Vat bao dam thực hiện nghĩa vu dân su", "Tiién, giấy tờ có giá dung để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dan sự” và "Quyển tài sản dùng dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân su".
Từ sau ngày 01/01/2017, khi BLDS năm 2015 chính thức có hiệu lực thi hành thay thế cho BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã lược bỏ bớt các nội dung tại Điều 320, 321, 322 và thay thế bằng Điều 295 quy định chung về TSBĐ. Tuy nhiên, nội dung điều luật chỉ đưa ra một số đặc điểm về tài sản mà chưa đưa ra khái niệm chính thức về TSBĐ [29;22]. 11 Căn cứ theo quy định của BLDS năm 2015, ngày 19/3/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định 21/2021/NĐ-CP Quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Nghị định 21/2021/NĐ-CP). Theo đó, Tài sản bảo đảm có thể được hiểu là tài sản được bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm thông qua các biện pháp bảo đảm như cầm có, thế chấp, bảo lãnh, ký cược, ký quỹ, đặt cọc.
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền phát sinh từ các hợp đồng vay tài sản tại các TCTD: Hoạt động cho vay của các TCTD là hoạt động tiềm ân rủi ro cao, các rủi ro này có thê xuất phát từ nguyên nhân khách quan là những sự biến động thị trường, van đề pháp lý, van đề chính tri dẫn tới khách hàng vay kinh doanh thua lỗ không có khả năng trả nợ, hoặc cũng có thể là rủi ro xuất phát từ nguyên nhân chủ quan do các TCTD chưa đánh giá được đúng năng lực và khả năng trả nợ của khách hàng dẫn tới không thu hồi được nợ [36;13]. Vì vậy, mặc dù pháp luật hiện hành không bắt buộc việc các TCTD khi cho vay phải có TSBĐ, tuy nhiên dé hạn chế được rủi ro có thé phát sinh thì ngoài việc nâng cao chất lượng thâm định, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, các TCTD thường yêu cầu khách hàng có biện pháp bảo đảm kèm theo. Đó có thé là các biện pháp bao đảm đối vật như cầm có, thé chấp; hoặc là biện pháp bảo đảm đối nhân như bảo lãnh. Đối với các biện pháp bảo đảm đối vật, để xác lập giao dịch bảo đảm, các TCTD sẽ yêu cầu khách hàng ký kết các hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, việc giao kết các hợp đồng bảo đảm thường được thực hiện theo các hình thức cụ thé là hợp đồng thé chấp, hợp đồng cầm có.
tách bạch với các hợp đồng vay tài sản (hợp đồng tín dụng).