CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hợp đồng trong hoạt động thương mại 1. Khái niệm hợp đồng trong hoạt động thương mại Ngày nay hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng để con người thực hiện các giao dịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân. Đặc biệt, trong bối cảnh tự do hóa thương mại đã trở thành xu thế của Thế kỷ 21, với mục đích phá bỏ mọi rào cản để hoạt động thương mại giữa các quốc gia được diễn ra thuận lợi.
Nhiều luật gia cho rằng “thuật ngữ hợp đồng được hình thành từ thời La Mã5”, tuy nhiên trong quan niệm của các nhà làm luật La Mã chỉ có bốn loại hợp đồng: Mua bán, thuê, lập công ty và ủy quyền. Hợp đồng có nhiều tên gọi khác nhau, mặc dù nó rất gần gũi và thiết yếu đối với tất cả mọi người, nhưng khi được hỏi hợp đồng là gì? thì không phải ai cũng có thể định nghĩa được về nó. Thậm chí các luật gia nổi tiếng, và các dòng họ (truyền thống) pháp luật lại có những định nghĩa khác nhau về hợp đồng. Tuy nhiên, tất các các định nghĩa đó đều có nhân tố hợp lý và xuất phát từ các triết lý pháp luật.
Trong cuốn từ điển pháp luật nổi tiếng của Hoa Kỳ “Black's Law Dictionary” định nghĩa: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều mà tạo lập nên một nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc cụ thể6”. Luật gia nổi tiếng người Pháp Pothier trong tác phẩm “Traité des obligations” đã định nghĩa: “Hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó hai hoặc chỉ bên hứa, cam kết với người khác để chuyển giao một vật, để làm một công việc hoặc không làm một công việc7”. 5 Nguyễn Ngọc Điện (2009), “Giáo trình Luật La Mã”, Nxb. Chính trị Quốc gia.
Garner (2019) “Black’s Law Dictionary”, Deluxe 11th Edition, Thomson Reuter 7 Lê Minh Hùng (2010), Luận văn tiến sĩ luật học “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh 10 Trong pháp luật Ý, Điều 1321 BLDS quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận của hai hay nhiều bên để thiết lập, điều chỉnh hoặc chấm dứt giữa họ một mối quan hệ pháp luật mang tính tài sản8”. Định nghĩa “hợp đồng” cũng được quy định tại Điều 1-201 BLTM Thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code, viết tắt UCC): “Hợp đồng là một hay một tập hợp các cam kết mà nếu vi phạm những cam kết này thì buộc phải thực hiện bằng sự cưỡng chế của pháp luật, hay nói cách khác pháp luật công nhận việc thực hiện những cam kết này là một nghĩa vụ”. Ở Việt Nam, trong thực tế đời sống, tùy vào từng thời kỳ lịch sử, có nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ về hợp đồng.
Trong cổ luật, các thuật ngữ như “văn tự, giao kèo, khế ước, văn khế9” được coi là thuật ngữ về hợp đồng. Ngày nay, thuật ngữ “hợp đồng” được sử dụng thống nhất trong các văn bản pháp luật hiện hành. Dưới góc độ luật thực định thì BLDS phiên bản năm 2005, năm 2015 đều quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Về kỹ thuật lập pháp, BLDS năm 2015 tại phần thứ ba đã thống nhất sử dụng thuật ngữ “nghĩa vụ” và “hợp đồng” thay cho thuật ngữ “nghĩa vụ dân sự” và “hợp đồng dân sự” được quy định trong BLDS năm 2005.
Sự thay đổi này phù hợp với vị trí, vai trò của BLDS là luật chung để điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ và hợp đồng. Trên cơ sở các quy định của BLDS, các luật cụ thể có những quy định riêng trong từng lĩnh vực điều chỉnh. Điều 275 của BLDS 2015 quy định một trong các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ là “hợp đồng”. BLDS năm 2015 tại Điều 385 quy định “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự10”.
Việc bỏ cụm từ “dân sự” để tránh cách hiểu quy định 8 Luisa Amtoniolli, Anna Veneziano (2005), “Principles of EUropean Contract Law and Italian Law”, Kluwer Law Internationa 9 Vũ Văn Mẫu (1963), “Việt Nam dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước”, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn 10 Đoàn Đức Lương (2018), “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát số 13/2018 11 trong BLDS chỉ áp dụng cho quan hệ dân sự thuần túy mà không áp dụng cho các quan hệ hợp đồng khác như quan hệ hợp đồng thương mại, lao động, v. Đồng thời, các quy định về hợp đồng trong BLDS áp dụng cho tất cả các hợp đồng trong các phạm vi điều chỉnh của “luật tư”. Như vậy, từ các phân tích, đánh giá và quy định về hợp đồng được liệt kê trên đây không hoàn toàn thống nhất, tuy nhiên có thể tổng hợp các yếu tố của hợp đồng như sau: Thứ nhất, hợp đồng là sự thỏa thuận trên cơ sở thống nhất về ý chí; Thứ hai, sự thỏa thuận này phải thiết lập bởi hai hay nhiều bên bao gồm giữa các thể nhân; pháp nhân với nhau; Thứ ba, thông qua sự thỏa thuận này các bên thiết lập cho nhau những quyền và nghĩa vụ tương ứng. Từ phân tích trên, chúng tôi khẳng định khái niệm hợp đồng như sau: Hợp đồng là sự thỏa thuận trên cơ sở thống nhất về ý chí giữa các chủ thể (các thể nhân; pháp nhân) thông qua sự thỏa thuận này các bên thiết lập những quyền và nghĩa vụ tương ứng.
Do hoạt động thương mại có những đặc thù “là tất các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi của thương nhân và gắn liền với mục đích tồn tại của thương nhân11” nên trong hệ thống pháp luật của nhiều nước có sự phân biệt giữa hành vi thương mại và hành vi dân sự, nhất là các quốc gia theo truyền thống pháp luật Civil Law. Vì thế, các nước này đã ban hành các đạo luật để điều chỉnh các quan hệ thương mại như BLTM Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Nhật Bản vvv. Ở các quốc gia theo truyền thống pháp luật Common Law với tính chất đặc trưng không có sự phân biệt giữa các hành vi dân sự và thương mại, tuy nhiên do nhu cầu của quan hệ thương mại phát triển thì một số quốc gia đã ban hành các đạo luật điều chỉnh quan hệ thương mại với 11 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ”, Nxb.
Hồng Đức 12 tính chất là luật mẫu và nguồn luật bổ sung mà không bao quát hết các hoạt động thương mại như Hoa Kỳ ban hành BLTM thống nhất (UCC) năm 1958 hoặc Anh ban hành Luật bán hàng năm 1979…v. Tuy nhiên, sự phân biệt mang tính chất tương đối dựa trên các nguyên tắc luật chung và luật chuyên ngành. Sự ra đời của LTM để điều chỉnh các hành vi thương mại và xác định quy chế của thương nhân xuất phát từ những lý thuyết cơ bản sau đây: Mua bán, trao đổi đã thúc đẩy sự ra đời của một tầng lớp thương nhân và hình thành các trung tâm buôn bán hàng hoá lớn. Do đó mua bán hàng hoá luôn luôn được xem là hành vi thương mại do bản chất.
Và các nhà khoa học pháp lý “thường lấy các thành tố mua vào, bán ra của nó để xác định hành vi thương mại12”. Ở Việt Nam, thời kỳ đầu hành vi thương mại được LTM điều chỉnh có nội hàm hẹp hơn khái niệm kinh doanh và thương mại mà pháp luật các nước trên thế giới đề cập. Theo LTM năm 1997 thì hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại. Đồng thời, Điều 45 LTM năm 1997 chỉ điều chỉnh 14 hành vi thương mại.
Những “Hạn chế của LTM năm 1997 đã dẫn đến những bất cập của pháp LTM Việt Nam so với thông lệ quốc tế và yêu cầu hội nhập kinh tế13”. Nhằm khắc phục những bất cập trên thì LTM năm 2005 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của các hành vi thương mại theo nghĩa rộng: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác14”. Khái niệm này đã tiếp cận theo đúng bản chất của thương mại, tức là gắn liền với hoạt động sinh lợi. Điều này tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của nền KTTT và hội nhập quốc tế của Việt Nam15.
Đồng thời, Khoản 3, Điều 1 LTM năm 2005 thì LTM sẽ điều chỉnh hoạt động 12 René David & John E. Brierley (1978), Major Legal Systems in the World Today, an Introduction to Comparative Study of Law- The Free Press 13 Phạm Duy Nghĩa (2013), “Giáo trình luật kinh tế”, Nxb.Công an Nhân dân 14 Khoản 1, Điều 3 LTM năm 2005 Lê Hoàng Oanh (2007), “Bình luận các vấn đề mới của Luật Thương mại trong điều kiện hội nhập”, 15 Nxb.Tư pháp 13 không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước CHXHCNVN trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng LTM. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 1 thì LTM không những được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng được ký kết giữa các thương nhân với nhau mà còn được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng được ký kết giữa một bên là thương nhân và một bên không phải là thương nhân. Từ các phân tích nêu trên, có thể hiệu hợp đồng trong hoạt động thương mại là sự thỏa thuận giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với một bên không phải là thương nhân trong việc xác lập thay đổi chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại.
Trong hoạt động thương mại, hình thức pháp lý của hành vi thương mại chính là hợp đồng thương mại. Đặc trưng hợp đồng trong hoạt động thương mại Thứ nhất, hợp đồng trong hoạt động thương mại phải có ít nhất một bên là thương nhân. Theo BLTM Cộng hoà Liên bang Đức năm 1900 chỉ cần “một bên của hợp đồng là thương nhân thực hiện hoạt động thương mại thì có thể áp dụng pháp LTM đối với hợp đồng này16”.