phần mở đầu và kết luận, luận văn chia làm 04 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về Quản trị tinh gọn. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng các lãng phí trong hoạt động sản xuất bún tại các cơ sở sản xuất tại làng nghề bún Thanh Lƣơng dƣới góc nhìn quản tinh gọn.
Chƣơng 4: Một số giải pháp áp dụng quản trị tinh gọn vào hoạt động sản xuất bún tại làng nghề Thanh Lƣơng. 3 CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ TINH GỌN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu: Nền móng của tƣ duy quản trị tinh gọn bắt nguồn từ việc nghiên cứu bí quyết để thực hiện phƣơng pháp sản xuất tinh gọn thành công từ đó các học giả, nhà nghiên cứu đã cho ra đời triết lý và tƣ duy quản trị tinh gọn. Sơ lƣợc qua về lịch sử ra đời của quản trị tinh gọn đƣợc bắt nguồn sâu xa từ lý luận về phân công lao động của Adam Smith sau đó Eli Whitney (1765 – 1825) ngƣời đầu tiên đặt ra tiêu chuẩn cho việc chế tạo súng ở Mỹ đã đặt ra tiêu chuẩn cho sản phẩm để dựa vào đó các nhà sản xuất hoàn thành công việc tốt hơn. Quản trị tinh gọn chỉ thực sự đƣợc quan tâm và nghiên cứu áp dụng rộng rãi kể từ khi Kiichiro Toyoda (1894-1952) học hỏi phƣơng pháp sản xuất hàng loạt của Henry Ford (1863-1947) mang về và áp dụng ý tƣởng về JIT tại công ty ô tô Toyota đã tạo ra dây chuyền sản xuất tinh gọn theo phong cách Nhật Bản.
Tuy nhiên quản trị tinh gọn theo phong cách Nhật Bản chỉ thực sự hoàn thiện khi Taiichi Ohno cha đẻ của phƣơng thức sản xuất Toyota (TPS) phát triển chi tiết hơn về khái niệm JIT và Jidoka cũng nhƣ cách kết hợp chúng trong sản xuất tại Tập đoàn Toyota Nhật Bản. Cho tới hiện nay quản trị tinh gọn đã đƣợc áp dụng trong nhiều tổ chức, ngành nghề trong nhiều lĩnh vực khác nhau rất đa dạng từ những hoạt động kinh doanh, kinh tế đến những hoạt động điều hành hành chính công…. và đặc biệt quản trị tinh gọn đã đƣợc nhiều nƣớc có điều kiện tự nhiên, văn hóa, con ngƣời tƣơng đối tƣơng đồng với Việt Nam nhƣ Trung Quốc, Thái Lan, Maylaysia, Singapore… Quản trị tinh gọn là một trong những công cụ đƣa các nƣớc trên phát triển nhƣ ngày nay, chính vì vậy đó cũng là những bài học, động lực để Việt Nam học tập và áp dụng Quản trị tinh gọn. 4 Quản trị tinh gọn có thể đƣợc hiểu đơn giản là phƣơng pháp quản lý, kiểm soát nhằm loại bỏ các tối đa lãng phí trong quá trình sản xuất thông qua việc áp dụng các công cụ nhƣ: 5S, Kaizen, Quản lý trực quan … Dƣới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu học viên đã tìm hiểu: Nguyễn Đăng Minh “Quản trị tinh gọn tại Việt Nam – Đường tới thành công” , 2015.
Phần đầu cuốn sách này tác giả đã đƣa ra khái niệm hoàn toàn mới đó là “Tâm thế”, đây chính là điểm mấu chốt tại sao các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay mặc dù đã áp dụng QTTG nhƣng chƣa thành công hoặc mới chỉ mang tính hình thức. Theo tác giả “Tâm thế” chính là chìa khóa quan trọng trong QTTG để có thể thành công đƣợc với các doanh nghiệp Việt Nam. Nguyễn Đăng Minh, Ứng dụng thực tiễn của “Bảo trì sản xuất tổng thể TPM tại các nhà máy sản xuất công nghiệp ở Nhật Bản”, (“Total Productive Maintenance: an Application for Japanese Automobile Plant”), 2011. Trong bài báo này tác giả đã chỉ ra rằng chỉ có thực hiện và duy trì năng suất tổng thể (TPM) một cách hiệu quả phải đƣợc thực hiện từ các cấp lãnh đạo đến từng nhân viên, đồng thời tác giả cũng giới thiệu những công cụ khác nhƣ 5S, 6 sigma và hiệu quả của những phƣơng pháp trên.
Bài phát biểu của PGS.TS Nguyễn Đăng Minh và nhóm nghiên cứu Quản trị tinh gọn tại hội thảo “Quản trị tinh gọn trong doanh nghiệp Việt Nam – các mô hình áp dụng thực tiễn”. Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học. đã đƣa ra nhiều ý kiến thiết thực nhằm góp phần xây dựng mô hình quản trị doanh nghiệp tinh gọn phù hợp với môi trƣờng của Việt Nam. Theo đó, các đại biểu cho rằng cần tạo điều kiện để ngƣời lao động kiến tạo quy trình làm việc theo tƣ duy của quản trị tinh gọn, lãnh đạo và ngƣời lao động cùng nhau tham gia cải tiến, nâng cao năng lực, cắt bỏ tối đa lãng phí 5 đồng thời cần xây dựng quá trình làm việc bằng “Tâm thế” và tƣ duy phƣơng pháp làm việc của quản trị tinh gọn.
Bài phát biểu của PGS.TS Nguyễn Đăng Minh trong hội thảo ngày 29/4/2014 Trƣờng ĐHKT - ĐHQGHN phối hợp với Viện Kinh tế và Quản lý - Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức hội thảo quốc gia với chủ đề “Áp dụng Quản trị tinh gọn trong doanh nghiệp Việt Nam: Thực trạng và giải pháp". Buổi hội thảo là tập hợp các nhà nghiên cứu, các nhà thực tiễn cùng nghiên cứu đƣa Quản trị tinh gọn vào doanh nghiệp Việt sao cho ngƣời Việt có thể sử dụng đƣợc lâu dài và biến Quản trị tinh gọn thành lợi thế kinh doanh, hình thành những nhà quản trị kinh doanh theo trƣờng phái tinh gọn. Phan Chi Anh, Yoshiki Matsui “Đóng góp của quản lý chất lượng và sản xuất đúng lúc vào hiệu quả sản xuất”, (Contribution of quality management and just-in-time production practices to manufacturing performance), 2010. Nhóm tác giả đã chỉ ra trong nghiên cứu này những đóng góp của quản lý chất lƣợng và sản xuất đúng lúc tới hiệu suất và tính linh hoạt của các xƣởng sản xuất thông qua khảo sát 163 xƣởng sản xuất tại 5 quốc gia.
Dựa vào phân tích số liệu thấy rằng các xƣởng có kết quả sản xuất cao đều là các xƣởng tập trung sử dụng hai công cụ quản lí chất lƣợng (QM) và Just In Time (JIT). Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng nêu bật đƣợc lợi ích khi vận dụng cả hai công cụ hơn là áp dụng một công cụ riêng lẻ. Chu Thị Thủy, Vƣơng Thị Huệ, 2015 “Áp dụng quản trị tinh gọn ở các doanh nghiệp Nhật Bản và bài học cho Việt Nam” Báo Khoa học & Thƣơng mại, số 80 - tháng 04/2015, trang 64-71. Trong bài báo nhóm tác giả đã giới thiệu sơ qua về lịch sử hình thành quản trị tinh gọn phong cách Nhật Bản, đồng thời nhóm tác giả cũng giới thiệu một số trƣờng hợp áp dụng quản trị tinh gọn thành công trong những lĩnh vực nhƣ sản xuất ô tô, y tế… theo mô 6 hình quản trị tinh gọn của Nhật bản, chỉ ra thực trạng, cơ hội và thách thức khi áp dụng mô hình quản trị tinh gọn của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam.
Phan Chí Anh, 2015. Quản trị sản xuất tinh gọn – Một số kinh nghiệm thế giới. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội. Trong cuốn sách tác giả đã hƣớng dẫn áp dụng những công cụ trong quản trị tinh gọn vào thực tế tại các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam, cho phép các nhà sản xuất đồng thời tạo ra các lợi thế cạnh tranh về chất lƣợng, chi phí, thời gian… Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp Công nghiệp Hỗ trợ và Viện Nghiên cứu Chiến lƣợc Chính sách Công nghiệp, 2016.
“Sổ tay hướng dẫn áp dụng mô hình quản lý sản xuất tinh gọn – Lean Manufacturing trong sản xuất cơ khí”. Cuốn sổ tay đã đƣa ra các yêu cầu, công cụ của quản lý sản xuất tinh gọn – Lean Manufacturing, các hƣớng dẫn, gợi ý áp dụng trong doanh nghiệp sản xuất cơ khí chế tạo đƣợc làm rõ trong cuốn sổ tay. Cuốn sổ tay này đã hƣớng dẫn chi tiết cho doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo xây dựng và áp dụng mô hình sản xuất tinh gọn – Lean Manufacturing vào thực tế sản xuất, qua đó đẩy mạnh việc cắt giảm lãng phí, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Hiroshi Katayama, David Bennett “SXTG trong thế giới cạnh tranh thay đổi: Viễn cảnh Nhật Bản”, (Lean production in a changing competitive world: a Japanese perspective), 1996.
Đội ngũ tác giả đã chỉ ra những khái niệm cơ bản của SXTG và xu hƣớng của Nhật Bản, phân tích đƣợc vì sao trong giai đoạn khủng hoảng những yếu tố môi trƣờng bao gồm cả bên trong và bên ngoài Nhật Bản lại không hề ảnh hƣởng đến khả tồn tại và phát triển của SXTG tại đây. Đội ngũ tác giả đã thực tế khảo sát 4 trƣờng hợp cụ thể để tìm ra các vấn đề trong việc áp dụng SXTG tại Nhật Bản đồng thời đội ngũ tác giả cũng giới thiệu một số khái niệm mới phù hợp hơn với thực trạng. 7 Robert Maurer, “Bước đi nhỏ thay đổi cuộc đời – Triết lý Kaizen”, 2006. Tác giả đã chỉ ra tiềm năng phát triển của Kaizen, chính nhờ Kaizen mà ngƣời Nhật với những bƣớc đi nhỏ và vững chắc đã giành đƣợc nhiều thành tựu vĩ đại và bền vững.
Các công ty, doanh nghiệp kể cả từ khi mới thành lập hay đang trên đà phát triển hƣớng đến thành công bền vững đều có thể áp dụng đƣợc Kaizen. Dahlgaard, Su Mi Dahlgaard-Park, "Sản xuất tinh gọn, 6 sigma, quản lý chất lượng toàn diện và văn hóa DN", (Lean production, six sigma quality, TQM and company culture), 2006. Nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra triết lý SXTG và 6 sigma cơ bản là giống nhau, cả hai có chung nguồn gốc là quản lý chất lƣợng tổng thể (TQM) của Nhật Bản. Đồng thời tác giả cũng chỉ ra SXTG và 6 sigma sẽ là những công cụ mới thay thế cho TQM của Nhật Bản.
Tác giả cũng đƣa ra lời khuyên đôi khi không nên tập trung quá nhiều vào những công cụ đào tạo con ngƣời mà bỏ qua ý thức, hiểu biết của họ. Yang Pingyu, Yuyu. 2010 “Những rào cản trong việc áp dụng sản xuất tinh gọn tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa và một số giải pháp: Trường hợp các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Wenzhou” (The barriers to SMEs’ implementation of lean production and countermeasures- Based on SME in Wenzhou). Thông qua việc khảo sát đánh giá các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Wenzhou (thành phố Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc), đội ngũ tác giả đã chỉ ra những khó khăn mà các doanh nghiệp tại đây gặp phải khi họ áp dụng SXTG, thông qua đó đội ngũ tác giả đã đề xuất một số giải pháp với bốn trọng tâm chính: Sự quan tâm của đội ngũ lãnh đạo trong công ty, kỹ năng giao tiếp, hệ thống tổ chức đào tạo và hệ thống đánh giá năng suất.