Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị nguồn vốn huy động tại các Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng công tác quản trị nguồn vốn huy động tại BIDV — Chỉ nhánh Kiên Giang. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn vốn huy động. tại BIDV — Chỉ nhánh Kiên Giang. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI NGUON VON HUY DONG TAI CAC NGAN HANG THUONG MAI 1.1 NGAN HANG THUONG MAI VA NGUON VON CUA NHTM 1.
Ngân hàng thương mại - Khái niệm - Theo các tài liệu nghiên cứu và giảng dạy hiện nay, có một số khái niệm về Ngân hàng thương mại được đưa ra, nhưng nhìn chung có hai khái niệm đặc trưng nhất, đó là: Ngân hàng là một loại hình tỗ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với cộng đồng nói riêng. Các ngân hàng có thể được định nghĩa thông qua các chức năng mà chúng thực hiện trong nên kinh tế. ~ Theo tài liệu “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter S. Rose năm 2013: “Ngân hàng là một loại hình tô chức tài chính cung cắp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nảo trong nền kinh tế”.
- Theo điều 20, Luật các Tô chức tín dụng 2010 của Việt nam: “Ngân hàng là loại hình Tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương, mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ ngân hàng” dy, có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.
Từ đó có thê nói bản chất của NHTM thể ên qua các điểm sau: ~ Ngân hàng Thương mại là một tô chức kinh tế ~ Ngân hàng Thương mại hoạt động mang tính chất kinh doanh; ~ Ngân hàng Thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Khái niệm về vốn và nguồn vốn - Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được quan niệm là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp. Khái niệm này không những chỉ ra vai trò là một yếu tố lâu vào của quá trình sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng. - NHTM được coi là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, do vậy việc tiến hành các biện pháp nghiệp vụ tạo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh là hết sức cần thiết 1.
Các loại nguồn vốn 1. Vốn điều lệ và các quỹ' - Vốn điều lệ ~ Vốn điều lệ ban đầu được hình thành từ các nguồn vốn khác nhau, tùy thuộc vào hình thức sở hữu của ngân hàng đó. Cụ thể là: + NHTM nhà nước sở hữu 100% vốn: vốn điều lệ do ngân sách nhà nước cấp. + NHTM cỗ phan: vốn điều lệ được hình thành thông qua hoạt động phát hành cỗ phiếu trên thị trường.
+ NHTM liên doanh: vốn điều lệ do NHTM nội địa và và đối tác nước ngoài đóng góp theo tỷ lệ tham gia đã thỏa thuận trong điều lệ. + Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài: vốn do ngân hàng mẹ ở chính quốc chuyển qua. + Ngân hàng 100 % vốn nước ngoài: vốn điều lệ do tô chức thành lập tự dap img ~_ Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật (được gọi là vốn pháp định). Ở Việt Nam cũng như tại các quốc gia trên thế giới đều có quy định mức vốn pháp định cho mỗi loại hình ngân hàng.
Mức vốn pháp định có thể được quy định thay đổi tùy mỗi thời kỳ, phù hợp với yêu cầu quản lý và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. -_ Vốn điều lệ của mỗi NHTM không phải là một con số bất biến mà có thê thay đổi theo xu hướng tăng lên nhờ được cấp bỗ sung, hoặc phát hành cổ phiếu bỗ sung, hoặc được kết chuyên từ quỳ dự trữ bỗ sung vốn điều lệ theo quy định của luật pháp. - Tuy vốn điều lệ không phải là nguồn vốn chủ lực trực tiếp phục vụ cho nhu cầu kinh doanh tiền tệ đối với NHTM. Song, vốn điều lệ lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng xuất phát từ mục đích sử dụng nó.
Trước hết, vốn điều lệ được sử dụng để xây dựng, mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị chuyên dùng. tức là tạo nên cơ sở vật chất ban đầu phục vụ cho hoạt động. kinh doanh của ngân hàng. Ngoài ra các NHTM còn được phép sử dụng vốn điều lệ để góp vốn, liên doanh, đầu tư, cấp vốn cho các công ty trực thuộc và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác.
Điều này cũng có nghĩa là mỗi NHTM có vốn điều lệ lớn sẽ có khả năng để đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình. Vốn điều lệ cũng là yếu tố làm cơ sở đẻ xác đỉnh các mức 10 khống chế cho vay tối đa đối với một khách hàng, mức vốn có thể huy động .duge quy định bởi pháp luật. Vốn điều ũng là yếu tố quan trọng tạo niềm tin, uy tín ban đầu của khách hàng đối với ngân hàng. -_ Các quỹ của ngân hàng: ~- Được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt động bao gồm các quỹ như: quỹ dự trữ bỗ sung vốn điều lệ, các quỹ dự phòng, quỳ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng phúc lợi và các quỹ khác.
- Ở Việt Nam, để đảm bảo an toàn trong hoạt động của tô chức tin dụng, Điều 4 trong Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20 tháng 05 năm 2010 quy định các NHTM phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tài sản Có rủi ro. Vốn tự có Tỷ lệ an tòan vốn tối thiểu CAR = x 100% Tai sản có rủi ro quy đổi Trong đó: - CAR: Capital Adequacy Ratio — Tỷ lệ an tòan vốn tối thiểu - Tổng tài sản Có rủi ro quy đôi = ¥ (Tài sản Có nội bảng x Hệ số rủi ro) + ¥ (Tai san ngoại bảng x Hệ số chuyén déi x Hi rủi r0) +Nếu số CAR = 9%: Ngân hàng có một tỉ lệ hợp lý giữa vốn chủ sở hữu với mức độ rủi ro trong sử dụng tải sản. + Nếu hệ số CAR > 9%: mức độ ro thấp, do vốn dự trữ nhiều hơn so. với vốn đưa vào kinh doanh.
Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này quá cao do ngân hàng đầu tư vào tài sản sinh lời có mức độ rủi ro thấp hoặc tổ chức tín dụng tăng. vốn quá nhanh trong khi tốc độ đầu tư và cho vay tăng chậm hơn thì lợi nhuận sẽ không cao. +Nết ố CAR < 9% : Mức độ rủi ro lớn, vốn chủ sở hữu không đủ sức bảo vệ ngân hàng khi rủi ro xảy ra. Nguyên nhân do vốn chủ sở hữu quá "1 thấp so với quy mô sử dụng vốn của ngân hàng; vốn dự trữ quá thấp trong khi đó vốn đưa vào kinh doanh chiếm tỉ trọng quá lớn; chú trọng các khoản cho vay không có đảm bảo và đầu tư vào chứng khoán các công ty nhiều hơn, thay vì đầu tư vào chứng khoán do chính phủ phát hành.
Nguồn vốn huy động - Day là nguồn vốn chủ yếu sử dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hang tam thời quản lý và sử dụng nhưng với nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng. - Nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng rất lớn trong tông nguồn vốn kinh doanh của NHTM, bao gồm: ~ Tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng, còn được gọi là tiền gửi thanh toán, tiền gửi giao dịch. - Tiền gửi có kỳ hạn của các tô chức, cá nhân. - Tiền gửi tiết kiệm của cá nhân.
- Nguồn vốn huy động qua phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiểu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi 1. Nguôn vốn đi vay - Trong trường hợp vốn tự có và vốn huy động không đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh, NHTM có thẻ vay vốn của các chủ thể sau: - Vay của Ngân hàng Trung ương dưới hình thức được tái cấp vốn như chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá; cầm có các giấy tờ có giá; vay lại theo hợp đồng tín dụng ~ Vay của các NHTM khác qua thị trường liên ngân hàng, ~ Vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế. Nguén von khác ~ Vốn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính, các quỹ, Ngân sách Nhà nước dé 12 thực hiện các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh; vốn tiếp nhận để cho vay ủy thác; vốn chiếm dụng của khách hảng trong quá trình hoạt động của ngân hàng (đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ ngân hàng. Đặc điểm của các loại nguồn vốn huy động - Vốn huy động tồn tại dưới nhiều hình thức, hay nói cách khác là ngân hàng huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, phố biến nhất là các nguồn sau đây: 1.
Tiền gửi không kỳ hạn ~ Để sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng, các khách hàng phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và có dư nhất định để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của mình. Như vậy, xét về bản chất, khi mở và gửi tiền vào tài khoản này, mục tiêu của khách hàng, không phải là tìm kiếm các khoản lãi từ số dư tài khoản.