Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nợ quá hạn. Chương 2: Thực trạng quản lý nợ quá hạn tại Quỹ Đầu tư phát triển Tây Ninh. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nợ quá hạn tại Quỹ Đầu tư phát triển Tây Ninh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ QUÁ HẠN 1.
Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng của Quỹ Đầu tư phát triển Tây Ninh 1. Khái niệm nợ quá hạn 1. Phân loại nợ quá hạn “Có rất nhiều nguồn gốc làm phát sinh NQH. Vấn đề là ở chỗ, khi NQH phát sinh thì làm thế nào để xử lý nó.
Để tiện cho việc quản lý tín dụng và xây dựng kế hoạch thu hồi vốn vay trong từng trường hợp cụ thể, giải quyết NQH thì các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số tiêu thức phân chia thường được áp dụng trong các QĐT.” • Căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản vay: + NQH < 180 ngày + NQH từ 180 ngày đến 360 ngày + NQH > 360 ngày. • Căn cứ vào khả năng thu hồi: + NQH đòi đủ 100%. + NQH khó đòi khả năng thu hồi không đủ và phải kéo dài. + NQH không có khả năng thu hồi.
• Căn cứ vào thành phần kinh tế: + NQH của các DNNN. + NQH của các DNTN + NQH của các công ty cổ phần, công ty TNHH. + NQH của các hộ cá thể • Căn cứ theo loại tiền cho vay: + NQH theo VNĐ • Căn cứ theo nguyên nhân phát sinh: + NQH do lỗi người vay: yếu kém về trình độ quản lý, khả năng cạnh tranh, do người vay cố tình không trả nợ… + NQH do lỗi người cho vay: thường bao giờ cũng gắn liền với lỗi người vay trong việc đồng tình, thông đồng…với khách hàng. • Căn cứ vào mức độ đảm bảo: + NQH được đảm bảo hoàn toàn + NQH được đảm bảo một phần + NQH không được đảm bảo.
“Như vậy, một khoản vay không có khả năng trả nợ vào thời điểm đáo hạn thì khách hàng có thể xin gia hạn nợ. Tuỳ điều kiện từng khách hàng mà Quỹ ĐTPT có chấp nhận hay không, nếu như hết thời hạn gia hạn nợ mà khách hàng vẫn không có khả năng thanh toán thì Quỹ ĐTPT sẽ chuyển toàn bộ khoản vay này sang NQH và khách hàng lúc này sẽ phải chịu lãi suất NQH. Nhờ cách phân chia này đã giúp cho Quỹ ĐTPT đưa ra các biện pháp xử lý thu hồi gốc và lãi của khoản vay này và giảm tỷ lệ rủi ro xuống mức thấp nhất có thể. Nguyên nhân của nợ quá hạn - Nguyên nhân từ phía khách hàng: người đi vay Đây là nguyên nhân chủ yếu gây nên NQH đối với Quỹ ĐTPT.
Từ khi hoạt động Quỹ ĐTPT ra đời, phát triển và hoàn thiện hơn thì tới 80% nguyên nhân gây rủi ro tín dụng là từ phía khách hàng. Quỹ ĐTPT cho đến ngày nay cũng đưa ra nhiều biện pháp và có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc hạn chế rủi ro tín dụng từ nguyên nhân này, việc “khám sức khỏe” “của KH trước, trong và sau khi cho vay, độ tin cậy trong quá trình quan hệ, mục đích sử dụng tiền vay, hiệu quả của phương án SXKD là cơ sở vững chắc cho việc quyết định có cho vay hay không. Tuy nhiên, NQH vẫn xảy ra và trở thành vấn đề bức xúc trong Quỹ ĐTPT nước ta hiện nay, vậy nguyên nhân là do đâu.” + Rủi ro trong công việc kinh doanh của người đi vay “Trong điều kiện phát triển như ngày nay, chúng ta chủ yếu xét đến các DN. Khi các DN được phép vay một khoản vay để thực hiện một dự án kinh doanh thì phần chi phí để trả cho Quỹ ĐTPT được trích từ lãi mà dự án này thu được.
Như vậy, “sức khoẻ” của khoản tín dụng phụ thuộc vào tính khả thi của dự án. Cũng có nghĩa là, Bất cứ một rủi ro nào trong quá trình SXKD của doanh nghiệp (đang sử dụng vốn của Quỹ ĐTPT) cũng đều ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ Quỹ.” “Tính rủi ro trong công việc kinh doanh của DN có thể do việc triển khai dự án đầu tư SXKD không khoa học, chưa thực hiện kỹ càng, xác thực. Các số liệu về mức tiêu thụ của sản phẩm trên thị trường, chất lượng nguyên vật liệu đầu vào, các yếu tố cấu thành nên giá thành sản phẩm chưa đầy đủ. Ngoài ra, cũng có thể có những nguyên nhân bất khả kháng, ngoài ý muốn của các điều kiện sản xuất, gây nên tình trạng khó khăn trong làm ăn, mang lại rủi ro cho DN và làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Quỹ ĐTPT ở các mức độ khác nhau.” + Các thiệt hại DN phải gánh chịu do sự biến động của thị trường cung cấp “Nếu giá cả của nguyên vật liệu trên thị trường tăng do khan hiếm hay do một lý do nào khác mà DN không thể không tiến hành sản xuất.
Như vậy, sẽ đẩy giá thành của mỗi đơn vị sản phẩm tăng lên, trong khi đó giá bán sản phẩm trên thị trường lại không thay đổi sẽ làm cho tổng doanh thu giảm xuống, lợi nhuận thu được từ dự án cũng giảm so với kế hoạch.” “Còn nếu như tăng giá bán sản phẩm để bù đắp phần chi phí tăng thêm thì sẽ làm cho việc tiêu thụ gặp khó khăn, khả năng thu hồi vốn chậm, dễ dàng vi phạm việc trả nợ Quỹ ĐTPT về mặt thời hạn.” + Doanh nghiệp phải chịu thiệt hại trên thị trường tiêu thụ “Nếu kế hoạch sản phẩm của dự án SXKD không thực hiện kỹ càng, chính xác thì sẽ làm nảy sinh hai vấn đề gây rủi ro trong SXKD của DN. Bởi nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế rất nhạy cảm.” - Thứ nhất là: “Nếu khối lượng sản phẩm sản xuất ra không phù hợp với nhu cầu thị trường tiêu thụ sẽ gây nên tình trạng tồn đọng hàng và hậu quả là vốn bị tồn đọng khả năng thu hồi chậm.” - Thứ hai là: “Nếu chất lượng sản phẩm kém, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng gây nên tình trạng tồn đọng vốn do không bán được hàng. Nếu doanh nghiệp phải bán với giá thấp hơn giá trị của hàng hoá, phải bỏ thêm chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa,… Như vậy, sẽ làm tăng tính rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp và việc trả nợ cho Quỹ ĐTPT đúng thời hạn khó mà thực hiện được” - Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích “Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích sẽ không đảm bảo an toàn của vốn vay trong quá trình sử dụng, sẽ gây lãng phí hay mất vốn. Như vậy Quỹ ĐTPT cũng gặp khó khăn trong việc thu nợ của mình.” - Năng lực tài chính của DN, của chủ dự án không lành mạnh khả năng thanh toán kém “Có nghĩa là các nguồn thu của DN thì hạn chế trong khi các khoản nợ đến hạn của DN ngày càng lớn như: nợ ngân sách, trả lương CNVC, nợ người bán, nợ ngân hàng…Và cơ cấu vốn đầu tư không hợp lý: Giá trị TSCĐ tăng nhanh trong khi quy mô của DN lại không có khả năng mở rộng.” - Do ý muốn chủ quan của người đi vay không trả nợ cho Quỹ ĐTPT hay là rủi ro đạo đức của người đi vay “NQH xảy ra khi người đi vay không trả được nợ cho Quỹ ĐTPT tại thời điểm đáo hạn.
Lý do có thể do tình trạng tài chính yếu kém, DN khất nợ vay đối với Quỹ ĐTPT hay doanh nghiệp cố ý không muốn trả nợ để dùng khoản tiền đó đầu tư kiếm lời.” - Nguyên nhân từ phía Quỹ “Tuy chiếm tỷ lệ không cao trong các nguyên nhân gây rủi ro tín dụng - NQH, nhưng nó lại phản ánh trình độ, khả năng quản lý, năng lực kinh doanh của Quỹ ĐTPT.” “Trước hết là ở tầm quản lý, Ban giám đốc Quỹ ĐTPT phải đưa ra được một chính sách cho vay phù hợp với tình hình thực tế. Bởi chính sách cho vay là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Quỹ ĐTPT. Chính sách đưa ra đồng bộ, thống nhất, đầy đủ, đúng đắn, sẽ xác định phương hướng đúng đắn cho cán bộ tín dụng khi thực hiện nhiệm vụ nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động tín dụng, nếu không sẽ dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng sẽ tạo ra khe hở cho người sử dụng vốn, như vậy sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế, dẫn đến rủi ro tín dụng – nợ quá hạn.” “Thứ hai là Quỹ ĐTPT chưa thật chú trọng vào mục tiêu của các khoản vay, tính toán thiếu chính xác hiệu quả đầu tư của dự án dẫn đến các quyết định sai lầm trong cho vay.” “Thứ ba là Quỹ ĐTPT đã không chú trọng khâu giám sát khoản vay sau quyết định cho vay hay quá tin vào khách hàng. Có thể dẫn đến tình trạng sử dụng vốn sai mục đích, hay tình hình tài chính, khả năng thanh toán của KH có vấn đề.
Như vậy sẽ gây nên rủi ro cho khoản vay Quỹ ĐTPT.” “Thứ tư là do trình độ của cán bộ tín dụng còn yếu kém không có khả năng đánh giá dự án vay vốn có hiệu quả. Thêm vào đó Quỹ ĐTPT lại không cung cấp đủ số liệu thống kê, các chỉ tiêu để phân tích, so sánh, đánh giá vai trò vị trí của DN trong ngành, khả năng phát triển trong tương lai,… Từ đó dẫn đến việc đánh giá sai hiệu quả của dự án cho vay.” “Mặt khác, cũng có thể do tư cách đạo đức của cán bộ tín dụng, thông đồng với KH để trục lợi riêng gây nên rủi ro tín dụng cho Quỹ ĐTPT và tình trạng NQH rất dễ xảy ra.” Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như: “Quỹ ĐTPT quá tin tưởng vào giá trị của tài sản thế chấp cầm cố sau khi đã đánh giá và coi đó là vật đảm bảo chắc chắn cho việc thu hồi gốc và lãi vay. Bỏ qua công tác phòng ngừa rủi ro, giám sát hoạt động của dự án, sử dụng vốn vay của KH. Không đưa ra được các biện pháp để xử lý khi có dấu hiệu của một khoản nợ xấu.” “Cán bộ tín dụng không thể bao quát được hết các điểm yếu về mặt pháp lý hay sai sót chủ quan, khách quan của khách hàng trong hồ sơ chứng từ xin vay.” “Tình trạng thiếu thông tin tín dụng, chưa phân loại được DN, chưa có sự phân tích, đánh giá DN một cách đúng đắn và khách quan.