Chương I. Tong quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về tiền lương và quản lý nhà nước về tiền lương đối với các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Chương II. Phương pháp nghiên cứu Chương III. Thực trạng quản lý nhà nước về tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam.
Chương IV. Giải pháp hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam. 12 CHUONG I - TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VAN ĐÈ CƠ BAN CUA QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE TIEN LUONG DOI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TAI VIỆT NAM 1.1 Tổng quan nghiên cứu Trên thực tế, tại Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội, cơ quan thay mặt Chính phủ quản lý và điều hành chính sách tiền lương, cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu thực trạng chính sách tiền lương cũng như các đề tài về cơ chế quản lý tiền lương của Nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp, có thé kế đến một vài dé tài cụ thé sau: - Để tài cấp Bộ năm 2005 “Hoàn thiện co chế quan ly nhà nước về tiền lương, tiền công trong nền kinh tế thị trường trong giai đoạn 2006-2010” do Phó Vụ trưởng Vụ Tiền lương — Tiền công Lê Xuân Thanh làm chủ nhiệm. Đề tài đã đánh giá một cách toàn diện cơ chế quản lý nhà nước về tiền lương, tiền công trong cơ chế thị trường nhằm bảo vệ quyền lợi và phát triển quyền tự do sáng tạo của người lao động, tăng thu nhập hợp pháp cho người lao động, đồng thời bảo đảm quyền tự chủ của người sử dụng lao động, tạo điều kiện dé thị trường lao động phat triển đúng hướng.
Song đề tài chưa làm rõ phân tích chỉ tiết thực trạng quản lý tiền lương của doanh nghiệp cũng như thực trạng quản lý của nhà nước, nội dung vẫn còn chung chung, không có sự so sánh quản lý giữa các loại hình doanh nghiệp. - Dé tài cap Bộ năm 2007 “ Bản chất tiền lương, tiền công trong nền kinh tế thị trường” do Phó Vụ trưởng Vụ Tiền lương Tiền công Nguyễn Hữu Dũng làm chủ nhiệm. Đề tài nhằm nghiên cứu làm rõ bản chất của tiền lương trong nền kinh tế thị trường, dé phuc vu nhu cầu cải cách hệ thống chính sách tiền lương trong điều kiện mới ở nước ta. - Pé tài cấp Bộ “Xây dựng cơ chế tiền lương , tiền thưởng đối với Tông giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng giám đốc , Phó giám đốc , Kế toán trưởng làm việc theo hợp đồng trong các công ty nhà nước” do ông Hoang Minh Hào - Phó Vụ trưởng Vụ Lao động - Tiên lương chủ biên (năm 2007).
Đề tài đã khái quát những nguyên 13 tac, nội dung của cơ chê tiên lương _, tiên thưởng lam cơ so đê xác định mức tiên lương, tiên thưởng tra cho Tông giảm đôc, Giám độc, Phó Tông giám déc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng làm việc theo hợp đồng trong các công ty nhà nước. - Dé tai cấp Bộ năm 2011 « Đổi mới nội dung quản lý nhà nước về tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp đến năm 2020 » Đề tài phân tích thực trạng công tác quản lý tiền lương của chủ sử dụng lao động của Nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước từ năm 2005 năm 2010 dé đánh giá những mặt được, mặt hạn chế, tìm ra bat cập, tồn tại. Từ đó đề xuất các nội dung đổi mới nhằm nâng cao hiệu qua trong công tác quản lý tiền lương của Nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp này phù hợp với xu thế hội nhập. Các nghiên cứu trên đã khái quát lý luận về tiền lương, các cơ chế quản lý tiền lương trong nền kinh tế thị trường, các nội dung về chính sách tiền lương, thu nhập chung trong doanh nghiệp và đưa ra một số giải pháp dé đổi mới cơ chế quản lý tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp ở nước ta như giải pháp hoàn thiện pháp luật, chính sách, chan chỉnh, sát nhập, cô phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Đồng thời cũng đúc rút một số kinh nghiệm của các nước trong khu vực Châu Á về cơ chế trả lương trong các doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xác định rõ các nội dung quản lý nhà nước về tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước phủ hợp với nguyên tắc của kinh tế thị trường thông qua việc làm rõ vai trò của Nhà nước về tiền lương, các nội dung quản lý tiền lương. Tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước và vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước thi chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống và phân tích dé tìm ra các giải pháp phù hợp dé nâng cao hiệu qua quản lý nhà nước về tiền lương trong các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.2 Cơ sở lý thuyết của quản lý nhà nước về tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước 1.1 Khái niệm và đặc điểm của tiền lương 1.1 Khái niệm tiền lương Tiền lương là một phạm trù kinh tế gan lién voi su xuat hién hién tuong su dung sức lao động của một bộ phận dân cư trong xã hội bởi một bộ phận dân cư khác. Trong thực tế, khái niệm tiền lương còn có nhiều tên gọi khác nhau, như tiền công, thù lao lao động, thu nhập lao động,.
Những tên gọi này được sử dụng đối với những nhóm lao động khác nhau hoặc cho những loại công việc khác nhau Trong kinh tế thị trường, tiền lương, tiền công phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động. Khi cung lao động lớn hơn cầu lao động, người chủ sử dụng lao động có xu hướng hạ thấp tiền lương, tiền công. Ngược lại khi cầu lớn hơn cung lao động, tiền lương, tiền công lại có xu hướng tăng lên. Mặc dù tiền lương, tiền công phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động, nhưng mức tiền lương, tiền công phải dựa trên giá trị lao động và có xu hướng là phải trả đúng giá trị lao động.
Tuy nhiên, tiền lương, tiền công chia ra làm 2 loại: (i) tong mức tiền lương bao gồm tiền lương người lao động nhận trực tiếp băng tiền và phần không nhận trực tiếp (chi phi đào tạo, tuyển dụng, bảo hiểm xã hội.), phản ánh tổng chi phí lao động của người chủ sử dung lao động phải chi trả; (ii) tiền lương cuối cùng đến tay người lao động là phan trả cho người lao động, phản ánh chi phí lao động sống của người lao động trong sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ. Từ các quan niệm nêu trên có thé khái quát tiền lương, tiền công trong kinh tế thị trường gồm 3 nội dung cơ bản và có quan hệ hữu cơ không tách rời là: Tiền lương, tiền công là giá cả lao động, hay biéu hiện bang tiền của giá trị lao động mà người chủ sử dụng lao động trả cho người lao động làm thuê dựa trên cơ sở tính đúng, tinh đủ chi phi lao động, phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động; Tiền lương, tiền công hình thành thông qua thỏa thuận giữa giới thợ và giới sử dụng lao động, nhưng không được thấp hơn mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định. 15 Dé có một khái niệm mang tính pháp lý về tiền lương, Điều 55 Bộ luật Lao động có ghi: "Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định".
Trong khu vực hành chính sự nghiệp, tiền lương là số tiền mà các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức của Nhà nước trả cho người lao động theo cơ chế và chính sách của Nhà nước và được thé hiện trong hệ thong thang, bảng lương do Nha nước quy định.2 Đặc điểm cia tiền lương - Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo đủ sống. Tức là đảm bảo tái sản xuất sức lao động của bản thân người lao động và gia đình. Với yêu cầu này, vẫn đề quan trọng nhất là, mặc dù tiền lương phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, song doanh nghiệp phải đảm bảo trả lương cho người lao động đủ sống, tức là mức thấp nhất không được trả thấp hơn mức lương tối thiêu đủ sống do Nhà nước quy định. Đề thực hiện yêu cầu này, Nhà nước khi công bố tiền lương tối thiểu phải xem xét đến nhu cầu mức sống tối thiêu của người lao động phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế để quy định mức lương tối thiểu đủ sống làm căn cứ cho việc thỏa thuận, thương lượng giữa các bên trong doanh nghiệp về tiền lương.
- Phải đảm bảo nguyên tắc công băng trong phân phối tiền lương trong doanh nghiệp. Tiền lương và thu nhập của người lao động phụ thuộc vào mức độ đóng góp của lao động và kết quả đầu ra của sản xuất kinh doanh. Song phải coi lao động là yếu tố quyết định của sản xuất kinh doanh, và do đó phân phối tiền lương, tiền công cho người lao động được coi là công bằng khi nó được trả tương xứng với sự đóng góp của lao động, tức là trả đúng giá trị của lao động. Theo yêu cầu này, phải xóa bỏ phân phối bình quân, cào bằng.
16 - Phân phối tiền lương trong doanh nghiệp phải đảm bảo mối quan hệ hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động, giữa ngắn hạn và dài hạn Theo yêu cầu này phải đặt lợi ích Nhà nước lên trên, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước (chủ yếu thông qua thuế), đồng thời cũng phải chú ý đến mục tiêu phát triển lâu dai của doanh nghiệp. Người lao động được trả lương, trả công thỏa đáng, song cũng phải trong tổng thể phát triển của doanh nghiệp và nhiều khi người lao động cũng phải chia sẻ với doanh nghiệp dé ưu tiên cho mục tiêu đầu tư phát triển để có việc làm ổn định và thu nhập cao trong tương lai. Do đó yêu cầu phải xây dựng quan hệ lao động hài hòa và đồng thuận về tiền lương, giảm thiểu tranh chấp và đình công trên cơ sở hình thành cơ chế đối thoại, thương lượng, thỏa thuận và tự định đoạt về tiền lương, nhất là tiền lương tối thiêu ở doanh nghiệp và ngành.2 Đặc điểm của khu vực nhà nước trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh tự do, A.