phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục phần nội dung luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú THCS. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA CHO HỌC SINH TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Theo Nich Gi-oa-kin, thì: “Bản sắc văn hóa không phải là quá trình qua đó người ta tồn tại mà quá trình qua đó mà người ta trở thành”; Theo A. Mugi, cho rằng: “Bản sắc văn hóa không thể được xem xét như một sự co lại và đóng cụ lại của những giá trị bất biến”; Còn theo cách tiếp cận của tác giả Liu Zhongmin ở hai tầng diện tâm lý và hành vi “Bản sắc văn hóa” mà Trần Ngọc Thêm đã khái quát lại: Sự đa dạng về văn hóa là một hiện tượng phổ biến cũng là quy luật phát triển của mỗi quốc gia. Ông Lý Quang Diệu cho rằng: “Trong vấn đề văn hóa và phát triển thì việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc vẫn là vấn đề lớn của thế giới đặc biệt là các nước châu Á.
Nếu quốc gia nào không duy trì được bản sắc của mình thì nước đó sẽ đánh mất khả năng tồn tại của mình” [12]. Trong các tác phẩm các cấu hình của sự phát triển văn hóa, Phong cách và các nền văn minh, Văn hóa và con người,. các nhà nghiên cứu Alfred Kroeber và Clark Wissler, đã nghiên cứu về quá trình lan truyền của một hay nhiều đặc trưng văn hóa từ khu vực địa lý này sang khu vực địa lý khác. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng: Có sự khác biệt đáng kể giữa về văn hóa dân tộc các vùng địa lý khác nhau trên thế giới; sự lan truyền giữa các vùng địa lý lân cận mà ở trong một khu vực địa lý nhất định.
Trong các quan sát này, sự nổi lên của một trung tâm văn hóa (có sự phát triển rực rỡ) có ảnh hưởng và lan tỏa rất rõ ràng ra các vùng lân cận. Qua thống kê từ các nghiên cứu của lý thuyết truyền bá văn hóa, các thuật ngữ “Vùng văn hóa”, “Khu vực trung tâm”, “Khu vực ngoại vi”… được 7 xác lập và giúp cho các nhà nghiên cứu về văn hóa vùng, cách thức truyền bá văn hóa. Song song với các nghiên cứu về nền/vùng văn hóa, các nhà nghiên cứu văn hóa. Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), họp ngày 17/10/2003 đã thông qua Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể tại phiên họp lần thứ 32 diễn ra từ 29/9 đến 17/10/2003 tại Thủ đô Paris (Cộng hòa Pháp).
Công ước gồm 8 chương, 40 điều, nhằm bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể; đảm bảo sự tôn trọng đối với di sản văn hóa phi vật thể của các cộng đồng, các nhóm người và các cá nhân có liên quan; nâng cao nhận thức ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể, để từ đó đảm bảo sự tôn trọng lẫn nhau trong lĩnh vực này; tạo ra sự hợp tác và hỗ trợ quốc tế. Di sản văn hóa phi vật thể, theo định nghĩa của Công ước, là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người. Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân và về phát triển bền vững.
Về di sản văn hóa phi vật thể là văn hóa dân tộc đặc sắc của nhân loại được thể hiện ở những hình thức sau: Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể; Nghệ thuật trình diễn; Tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội; Tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; Nghề thủ công truyền thống. 8 Sự ra đời của công ước nhằm bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể là các biện pháp có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệu hoá, nghiên cứu, bảo tồn, bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển giao, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc phi chính thức cũng như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản này. Các quốc gia thành viên của Công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể là các quốc gia chịu sự ràng buộc của Công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.News & World Report là cơ quan truyền thông Mỹ có kinh nghiệm hoạt động 85 năm với nhiều uy tín. Các đánh giá của đơn vị này là kim chỉ nam cho nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa và du lịch.
Khảo sát này được tiến hành ở 80 quốc gia và đánh giá điểm dựa trên 7 tiêu chí: Uy tín, giải trí mang ý nghĩa văn hóa, thời trang, tạo xu hướng, hiện đại, hạnh phúc và tác động văn hóa. Cơ quan truyền thông U. News & World Report đã có bảo cáo công bố 10 quốc gia có nền văn hóa ảnh hưởng lớn trên thế giới. Trong bảng xếp hạng 10 đất nước có nền văn hóa ảnh hưởng toàn thế giới thì Ý đứng đầu bảng.
Mỗi năm, quốc gia này thu hút khoảng 40 triệu lượt du khách đến tham quan, trải nghiệm ẩm thực, thời trang và nền văn hóa lâu đời của Ý. Thang điểm 10 là tuyệt đối cho Ý. Ở vị trí số 2 là nước Pháp với số điểm đánh giá là 9,4. Đất nước có tầm ảnh hưởng đến thế giới trong quá khứ và hiện tại và được xem là tốp những đất nước phải đến trong trải nghiệm du lịch.
Lần lượt các quốc gia khác là Mỹ, Tây Ban Nha, Anh, Nhật, Thụy Sĩ, Brazil, Úc và Thụy Điển. Những nghiên cứu ở Việt Nam Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những 9 niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật. Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam, với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong hàng nghìn năm nay. Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21.
Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại. Trong thế kỷ 19, các nghiên cứu về văn hóa dân tộc Việt Nam đã được các đô hộ sử dụng như một công cụ cai trị người dân. Thời kỳ này có các trường học nhưng với mục đích giáo dục đào tạo phục vụ xâm lược và cai trị, vì thế giáo dục bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung và dân tộc thiểu số nói riêng trong trường học là chính sách nô dịch văn hóa bản địa của thực dân Pháp. Cũng chính vì vậy các công trình nghiên cứu về văn hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam giai đoạn này là công cụ của thực dân phong kiến cai trị đất nước ta.
Tuy nhiên cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi phong trào cách mạng giải phóng dân tộc lên cao, văn hóa Việt Nam được các học giả, nhà văn, nhà khoa học nghiên cứu và đã có các công trình được viết ra theo hướng “Lịch sử văn hóa” mang tính chất miêu tả rất công phu, tỷ mỉ như Lê Qúy Đôn, Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, L.Durand, Toan Ánh, Lê Văn Siêu,. Bên cạnh giá trị tư liệu hết sức quý báu, các công trình này còn có một số nhược điểm như: tản mạn, thiếu tính hệ thống, tính quy luật; còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại; thường bị chi 10 phối một cách vô thức bởi căn bệnh “Lấy Trung Hoa làm trung tâm”. Chỉ có một số ít tác giả đã ít nhiều thoát ra khỏi tình trạng trên như Kim Định,Trần Quốc Vượng, Phan Ngọc [27]. Chủ nghĩa Mác-Lênin được Nguyễn Ái Quốc truyền bá về Việt Nam không chỉ là phương thức đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc mà còn kết hợp đúng đắn, hài hòa giữa cách mạng và văn hóa và đây cũng chính là điểm mấu chốt để chủ nghĩa Mác-Lênin thành công trong công cuộc giải phóng dân tộc các nước thuộc địa.