CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trên thế giới, bất cứ một quốc gia nào cũng đều quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, nhân cách và ý thức tuân thủ pháp luật cho công dân nước mình, trong đó giáo dục pháp luật trong nhà trường được quan tâm đặc biệt. Giáo dục pháp luật trong nhà trường ở các nước đã được hoàn thiện về mặt lý luận và trong thực tiễn có nhiều kinh nghiệm tốt về nội dung, chương trình, hình thức và phương pháp giáo dục. Kết quả giáo dục pháp luật trong nhà trường đã góp phần quan trọng trong tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức pháp luật của người dân, thực hiện xã hội sống và làm việc theo pháp luật.
Trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về GDPL được công bố trong các hội thảo khoa học, các tài liệu nghiên cứu lý luận và thực tiễn: Tại Seoul (Hàn Quốc) năm 2012 hội thảo khoa học quốc tế “Giáo dục pháp luật ở châu Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và nhà nước pháp quyền”. Các bản tham luận tham gia hội thảo đều có nhận định chung về vai trò GDPL trong việc thúc đẩy xây dựng thị trường ổn định, tạo cơ sở pháp lý cho sự bình đẳng về cơ hội phát triển con người, phúc lợi và công bằng xã hội [14]. Geraghty, (2016), trong công bố “Teaching Law to High School Students: The Case of Street Law in the United States”, tạm dịch là “Dạy pháp luật cho học sinh trung học: Trường hợp của Street Law ở Hoa Kỳ” đã nghiên cứu, xem xét tập trung vào việc giảng dạy pháp luật cho học sinh trung học tại Hoa Kỳ thông qua một tổ chức phi lợi nhuận được gọi là “Street Law”. Street Law cung cấp các khóa học GDPL cho học sinh trung học để giúp họ hiểu biết về các khía cạnh cơ bản của pháp luật và hệ thống pháp luật.
Nghiên cứu này phân tích tác động của việc tham gia vào chương trình giáo dục pháp luật đối với học sinh, bao gồm việc nâng cao kiến thức pháp lý và cách nó có thể ảnh hưởng đến tư duy luật sư của họ.A [15] đã đưa ra các nghiên cứu lý luận về GDPL cho học sinh 7 THPT ở Liên Bang Nga, tác giả nêu ra: mô hình GDPL phù hợp với GDPL cho học sinh trung học phổ thông, chỉ ra các điều kiện, các yếu tố ảnh hưởng đến GDPL và đưa ra các kiến nghị đổi mới cách thức, hình thức, phương pháp dạy học pháp luật ở trường trung học phổ thông. Nhiều nước đã rất chú trọng đưa giáo dục pháp luật vào chương trình GDCD trong trường học bằng nhiều nội dung và hình thức phong phú, phù hợp với môi trường giáo dục của từng quốc gia. Ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học đã có công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn của GDPL trong nhà trường và xã hội. Giáo dục pháp luật góp phần hình thành, nâng cao hệ thống tri thức pháp luật cho học sinh hình thành lòng tin pháp luật.
GDPL chính là tăng cường khả năng tự bảo vệ của chủ thể trước những tác động bất thường của cuộc sống. GDPL giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, là cầu nối để đưa pháp luật vào cuộc sống. Sự hiểu biết sâu về pháp luật là nhân tố đặc biệt quan trọng, giúp cho chủ thể nhân cách tự ý thức được trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình. Vấn đề giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật trong nhà trường phổ thông nói riêng đã có một số tác giả nghiên cứu dưới dạng giáo trình, sách nghiên cứu, tham khảo hoặc một số đề án thạc sĩ.
Một số công trình nghiên cứu có giá trị sử dụng thực tiễn cao như: Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai, (1995), trong cuốn “Bàn về giáo dục pháp luật” (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội) đã đưa ra và nghiên cứu các khái niệm, phạm trù cơ bản của khoa học GDPL, bao gồm: Bản chất của GDPL, mối quan hệ giữa GDPL với giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức và các dạng giáo dục khác; mục đích của GDPL, vai trò của GDPL ở nước ta hiện nay; chủ thể, khách thể, đối tượng, nội dung hình thức, phương pháp và hiệu quả GDPL. Trong sách chuyên khảo “Ý thức pháp luật” (Nxb Chính trị quốc gia 2011), Nguyễn Minh Đoan đã làm rõ khái niệm, đặc điểm, chức năng của ý thức pháp luật, phân loại ý thức pháp luật. Trên cơ sở đó cho thấy ý thức pháp luật là một hình thái quan trọng của ý thức xã hội.
Ngoài ra, cuốn sách còn phân tích tư tưởng pháp luật 8 cũng như vai trò của nó trong đời sống xã hội; đồng thời đề cập đến vấn đề tâm lý pháp luật và những biểu hiện của nó, đây là tiền đề thúc đẩy quá trình hình thành, phát triển các tư tưởng, quan điểm pháp luật phù hợp. Bằng những phân tích và lập luận của mình, tác giả đã cho thấy ý thức pháp luật là một bộ phận, một hình thái quan trọng của ý thức xã hội, phản ánh nhu cầu điều chỉnh và quá trình điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội… Bên cạnh đó, cuốn sách còn trình bày một cách rõ nét thực trạng ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở thực tế, tác giả đã đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay, trong đó có nhấn mạnh đến biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật. Ngoài ra, còn một số nghiên cứu cũng bàn đến vấn đề giáo dục pháp luật như: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới” của Viện nghiên cứu Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp, Hà Nội 1995).
“Một số vấn đề lý luận về thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới” (Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1994 của Bộ Tư pháp) của Nguyễn Đình Lộc. Trong đó nêu lên được những nội dung cơ bản về giáo dục pháp luật và giải pháp cho việc giáo dục pháp luật trong giai đoạn đổi mới. Bài báo “Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Quốc Sửu (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/2010), trong đó nghiên cứu khái quát hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào. Bên cạnh đó, có thể kể đến một số Luận án như là: “Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” của tác giả Trần Ngọc Đường; “Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và GDPL cho nhân dân lao động Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đình Lộc; “Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quốc Sửu (2010).
Nguyễn Huy Phong (2020), Quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện An Lão, tỉnh Bình Định (Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Quy Nhơn). Luận văn đã khái quát tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục huyện An Lão, tỉnh Bình Định; đánh giá thực trạng thực hiện quản lí 9 công tác giáo dục pháp luật ở các trường trung học phổ thông huyện An Lão, tỉnh Bình Định, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra kinh nghiệm có giá trị đối với công quản lý công tác giáo dục pháp luật trong thời gian tới; đồng thời xác định giải pháp tăng cường quản lý công tác GDPL ở các trường THPT huyện An Lão, tỉnh Bình Định trong giai đoạn hiện nay. Với các nghiên cứu đã có, có thể thấy rằng lý luận về GDPL nói chung và GDPL ở trường THPT nói riêng đã được nghiên cứu tương đối đầy đủ, làm cơ sở vững chắc cho những nghiên cứu về sau; đồng thời cũng đã có rất nhiều kinh nghiệm tốt trong nghiên cứu thực tiễn. Tuy nhiên, tại địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định thì chưa có tác giả nào nghiên cứu chi tiết về nội dung này.
Do đó, tôi tập trung nghiên cứu đề tài “Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định” nhằm đổi mới, bổ sung và hoàn thiện hệ thống nội dung các biện pháp quản lý GDPL cho HS phổ thông, phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định nói riêng, cũng như sự phát triển của đất nước ta hiện nay. Các khái niệm chính của đề tài 1. Khái niệm pháp luật Pháp luật là một khái niệm phức tạp, luôn là chủ điểm của các tranh luận triết học phức tạp trong lịch sử loài người từ trước tới nay. Lý do giản đơn là, mỗi quan niệm về “pháp luật” đều trực tiếp hoặc gián tiếp phản ánh hoặc gắn với khía cạnh vị thế, quan điểm, lý do biện minh cho sự tồn tại của các lực lượng xã hội, các nhóm lợi ích nhất định trong xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì pháp luật ra đời và tồn tại gắn liền với xã hội có giai cấp, nó là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính chủ quan. Pháp luật do Nhà nước - Tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội ban hành nên nó thể hiện ý chí của Nhà nước. Giai cấp thống trị thông qua Nhà nước đã hợp thức hóa ý chí của Nhà nước dưới dạng các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội. 10 Khi Nhà nước ra đời, pháp luật cũng xuất hiện, giai cấp nắm quyền đã sử dụng công cụ pháp luật để quản lý xã hội, bên cạnh việc sử dụng các quy phạm đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tập quán để duy trì trật tự xã hội.
Cũng như Nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện rõ tính giai cấp của nó, vì pháp luật phản ánh ý chí của Nhà nước, của giai cấp nắm quyền. Trong xã hội có giai cấp, pháp luật chính là yếu tố điều chỉnh giai cấp về các quan hệ xã hội, nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một mục tiêu, một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp nắm quyền, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội. Bên cạnh tính giai cấp pháp luật còn mang tính xã hội và có giá trị xã hội to lớn.