phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn dự kiến được trình bày trong ba Chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo, Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng trải nghiệm. Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng trải nghiệm. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ MẪU GIÁO THEO HƢỚNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Đầu những năm 1990, các tổ chức của LHQ như WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng LHQ), UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của LHQ) đã chung tay xây dựng chương trình rèn luyện kỹ năng sống cho thanh thiếu niên. Nhiều ứng dụng đặc biệt đã tập trung đào tạo kỹ năng sống cho thanh thiếu niên vào các nhóm kỹ năng như: kỹ năng tâm lý cá nhân, các mối quan hệ khác, kỹ năng cộng đồng và kỹ năng làm việc. Ở các nước phương Tây, việc giáo dục KNS được rất được quan tâm và nghiên cứu, vì đây là một trong những vấn đề trọng điểm trong việc nghiên cứu và phát triển con người. Đối với thanh thiếu niên, việc giáo dục KNS được lồng ghép, tích hợp trong từng môn học khác nhau trong chương trình học, thông qua những hoạt động cụ thể.Peecnicova Trong một số tác phẩm của mình, Peecnicova đã đề cập đến việc trau dồi lao động có ích cho bản thân để hình thành phẩm chất đạo đức của trẻ.
Theo Người: "Phẩm chất đạo đức hình thành ở các em trước hết là trong quá trình lao động. Phẩm chất này thể hiện ở lòng say mê và cách các em phục vụ bản thân, gia đình và nhà trường. Như vậy, sở thích và thói quen, kỹ năng lao động tự phục vụ của trẻ là biểu hiện phẩm chất đạo đức của trẻ. Anh ấy tin rằng trẻ em nên được giao những công việc nhẹ nhàng nhưng hữu ích ngay từ khi còn nhỏ.
Thực hiện các kỹ năng chăm sóc bản thân như rửa tay, rửa mặt, đánh răng, chải đầu… là những việc làm đơn giản và trẻ khỏe nhưng rất có lợi cho sức khỏe và sắc đẹp. Dựa trên quan điểm của Cruskaia: “Cho trẻ đi làm sớm, nếu không tài năng kém sẽ phát 6 triển”. Tác giả Cruskaia cho rằng: “Con cái chúng ta cần được hưởng một tuổi thơ hạnh phúc, nhưng tất nhiên điều này không có nghĩa là tuổi thơ nhàn rỗi. Trẻ em không vui nếu cha mẹ chúng tiếp tục phục vụ chúng như những người bạn ấm áp [2].
Đồng thời, tác giả đưa ra một quy tắc rất đơn giản và quan trọng để dạy trẻ thói quen vệ sinh tốt, đó là: “Đừng làm cho con bạn những việc chúng có thể tự làm được, kể cả với những đứa trẻ không còn nhỏ với khả năng của mình, nên tự ăn uống, tự rửa mặt, đánh răng. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Covalius rất chú trọng đến việc rèn luyện ý thức về bản thân và cái tôi của trẻ. Tác giả nói: “Thói quen là bản chất thứ hai của con người, thích thì làm việc, không làm việc thì người ta chịu không nổi v. Do đó, theo Covalius, nếu con người có xu hướng làm việc, thì con người tích cực làm việc, nếu không làm việc đó thường xuyên, họ cảm thấy khó chịu và buồn bã.
Vì vậy, một khi kỹ năng tự chăm sóc bản thân được hình thành ở trẻ thì phải thực hiện thường xuyên để chúng trở thành nhu cầu của trẻ, nếu không trẻ sẽ cảm thấy khó chịu. Tác giả cũng nhấn mạnh, trẻ tích cực làm công việc tự phục vụ mang lại cho trẻ niềm vui, niềm tự hào, từ đó thúc đẩy trẻ làm công việc tự phục vụ. Vì vậy, tác giả cho rằng giáo viên nên tạo niềm vui, hứng thú trong hoạt động tự phục vụ của trẻ thì việc rèn luyện tính tự phục vụ của trẻ mới mang lại hiệu quả cao [4]. Tại nhiều nước khác như Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Nepal.
KNS tuy có cách phân loại khác nhau nhưng tựu chung lại là hầu hết các nước đều nhận thấy tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho người học, giúp người học làm chủ cuộc sống của mình. Tình hình nghiên cứu trong nước Việt Nam thực hiện cải cách chương trình giáo dục mầm non. Mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non mới là gắn việc dạy kỹ năng sống với các hoạt động khác. Rèn luyện bản thân, hình thành kỹ năng, thói quen tự chăm 7 sóc cho trẻ mầm non được các nhà nghiên cứu quan tâm và sử dụng như Nguyễn Bạt Cẩn, Nguyễn Oanh, Châu Thị Hạnh, Hoàng Hối, Phạm Đức Khảm, Đình Kỳ, Phan Sỹ Kỷ, Lâm Đình Liêm, Nguyễn Văn Khoa nhấn mạnh vai trò của việc rèn luyện lực lượng lao động tự phục vụ trong giáo dục trẻ em nói chung.
Nhóm tác giả cho rằng phương pháp chủ yếu là giảng giải kết hợp với trực quan, luyện tập và thực hành chủ yếu dưới dạng bài học. Tác giả Trần Thị Trọng đưa ra hệ thống các phương pháp phát triển kỹ năng, hành vi cho trẻ như phương pháp trực quan (làm mẫu, phân tích động tác); phương pháp giảng dạy; nhóm biện pháp khuyến khích nêu gương (nêu gương, dùng nhận xét tình huống). Theo tác giả, giáo dục trẻ tự phục vụ bao gồm các bước: Tiếp nhận yêu cầu của trẻ, rèn luyện kỹ năng thực hiện hoạt động, hiểu trình tự thực hiện. trong quá trình giáo dục cần sử dụng nhiều phương pháp, hành vi trong mọi hoạt động, vui chơi.
và học tập [48]. Tác giả Mai Ngọc Liên đã khám phá một số biện pháp rèn luyện tính tự lập cho trẻ thông qua các hoạt động tự chăm sóc bản thân. Tác giả cho rằng cần phải rèn cho trẻ tính tự lập ngay từ nhỏ thông qua nhiều biện pháp như khuyến khích, động viên, tổ chức trò chơi. Tác giả Nguyễn Thị Ngọc khảo sát thực trạng dạy KNS ở trẻ mầm non thông qua tổ chức hoạt động vui chơi và đề xuất một số giải pháp dạy KNS ở trẻ mầm non [39].
Tác giả Nguyễn Thị Luyến nghiên cứu về sự phát triển KN giải quyết vấn đề của trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động tự phục vụ của trẻ mầm non, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tác giả đã xây dựng các phương tiện nhằm tăng cường KN giải quyết vấn đề của trẻ, khả năng - kỹ năng giải quyết thông qua tự phục vụ [37]. Tác giả Nguyễn Thanh Huyền nghiên cứu các biện pháp tăng cường sự tự tin cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động hàng ngày ở trường mầm non. Tác giả nhấn mạnh các nguồn lực giáo dục như quan sát tác động 8 qua kể chuyện, rèn luyện kỹ năng tự đánh giá thông qua các hoạt động ở trường mầm non [33]. Các tác giả Nguyễn Thị Phong và Trần Thanh Tùng trong nghiên cứu của mình cho rằng lau mặt, rửa tay, chải đầu, mặc quần áo.
giáo viên nên dạy động từ. từ đơn giản đến phức tạp phải thường xuyên kiểm tra, củng cố, tạo điều kiện cho trẻ luyện tập thường xuyên. Hai tác giả trình bày chi tiết các yêu cầu và trình tự thực hiện từng kỹ năng chăm sóc bản thân và vệ sinh thân thể như rửa mặt, rửa tay, làm sạch tóc, móng. Tác giả Trần Thị Trọng đưa ra hệ thống các phương pháp phát triển kỹ năng, hành vi cho trẻ như phương pháp trực quan (làm mẫu, phân tích động tác); phương pháp giảng dạy; nhóm biện pháp khuyến khích nêu gương (nêu gương, dùng nhận xét tình huống).
Theo tác giả, giáo dục trẻ tự phục vụ bao gồm các bước: Tiếp nhận yêu cầu của trẻ, rèn luyện kỹ năng thực hiện hoạt động, hiểu trình tự thực hiện. trong quá trình giáo dục cần vận dụng một số phương pháp, cách quản lý trong mọi hoạt động. trẻ thích chơi mà học [48] Nhờ đặc điểm của trẻ mẫu giáo là trẻ biết thế giới tự nhiên và xã hội, trẻ bắt đầu sống cuộc sống xã hội với mọi thứ mới mẻ nên ngoài việc dạy kiến thức cho trẻ cũng cần dạy các kỹ năng cơ bản cần thiết cho cuộc sống: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng tự vệ… giúp trẻ phát triển các giá trị, bản lĩnh và đặc điểm nhân cách phù hợp với lứa tuổi. Tuy nhiên, chưa có nhiều tài liệu hay công trình nghiên cứu giáo dục về kỹ năng tự chăm sóc bản thân của trẻ mẫu giáo trong các cơ sở giáo dục mầm non.
Cụ thể, tại huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc chưa có nghiên cứu nào về quản lý hoạt động rèn luyện kỹ năng tự chăm sóc cho trẻ mầm non nên hướng nghiên cứu này còn bỏ ngỏ. Một số khái niệm cơ bản giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo theo hƣớng trải nghiệm 1. Khái niệm trải nghiệm, quản lý hoạt động giáo dục 1. Trải nghiệm Trải nghiệm là quá trình hoặc cảm nhận của một người khi tương tác 9 với một sự kiện, một hoạt động, một sản phẩm hoặc một tình huống cụ thể.
Nó bao gồm những cảm xúc, suy nghĩ, ý kiến và nhận thức mà người đó trải qua trong quá trình tương tác. Trải nghiệm có thể xảy ra trong nhiều lĩnh vực và tình huống khác nhau, bao gồm trải nghiệm về sản phẩm, dịch vụ, du lịch, giáo dục, nghệ thuật, giải trí và nhiều lĩnh vực khác. Trải nghiệm không chỉ liên quan đến những gì chúng ta trải qua về mặt cảm giác và nhận thức, mà còn đến cách chúng ta hiểu, đánh giá và tạo nên ý nghĩa từ những trải nghiệm đó. Nó có thể bao gồm cảm nhận về sự hài lòng, thỏa mãn, hứng thú, cảm động, cảm kích, hay cả những cảm xúc tiêu cực như thất vọng, căng thẳng, hoặc bất mãn.
Trải nghiệm có thể là một quá trình phức tạp, ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như kỹ thuật, thiết kế, tương tác, môi trường, mong đợi, và kỳ vọng của mỗi người. Mục tiêu của việc tạo ra trải nghiệm tốt là để mang lại sự thoả mãn và tạo dựng một kết nối sâu sắc giữa người dùng và sản phẩm, dịch vụ hoặc sự kiện.