Chương I. Giới thiệu bài toán phân cụm dữ liệu, các khái niệm và các tiếp cận cơ bản. Giới thiệu kiến thức về mạng nơ-ron cần dùng để di sâu vào tìm hiểu việc ứng dụng chúng cho bài toán phân cụm dựa trên tri thức được trình bảy ở chương 3. Trình bày phương pháp S°C”, một mô hình phân lớp sử dụng mạng nơ-ron cho bài toán phân cụm dựa trên ràng buộc theo từng cặp.
Trình bày kết qua cài đặt chương trình cho phương pháp S°C2, và chạy thử nghiệm trên tập dữ liệu hoa Iris, MNIST; dua ra kết quả thực nghiệm của S°C? đồng thời so sánh kết quả với các phương pháp khác: SSGC, SSDBSCAN, SSK-Means, MCSSGC [5,6]. PHAN CUM DU LIEU Trước khi đi sâu vào phân cụm bán giám sát dựa trên tri thức theo từng cặp, cũng như phương pháp S°C7 [1], chương này chúng tôi sẽ trình bày sơ lược về phân cụm dữ liệu, các phương pháp phân cụm dữ liệu. Phân cụm là gì Phân cụm là quá trình phân tách một tập các đối tượng dữ liệu thành các tập con. Mỗi tập con là một cụm, sao cho các đối tượng trong cùng một cụm thì giống nhau, nhưng không giống so với các đối tượng ở các cụm khác [2].
Phân cụm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, như BI, nhận dạng mẫu, tìm kiếm web, sinh học và bảo mật,. Trong BI, phân cụm có thể được sử dụng để sắp xếp một số lượng lớn các khách hàng vào các nhóm, trong đó các khách hàng trong cùng một nhóm sẽ có sự tương tự lớn về một số đặc điểm. Điều này tạo điều kiện cho phát triển các chiến lược kinh doanh đề tăng cường quản lý quan hệ khách hàng (Customer Relationship Management: CRM) [2]. Trong nhận dạng mẫu, phân cụm cũng được sử dụng cho nhiều bài toán có tinh img dung cao, va rất thực tiễn, như nhận dạng chữ ký, nhận dạng chữ viết tay, nhận dạng vân tay, nhận diện khuôn mặt,.
San phẩm của phân cụm được triển khai trong rất nhiều hệ thống, và ngày càng trở nên phô biến. Từ các ứng dụng của các cá nhân, tới các hệ thống lớn hơn của các doanh nghiệp, ngân hàng, các tập đoàn đa quốc gia, thậm chí là các hệ thống chính phủ,. đều có sự hiện diện của phân cụm. Chẳng hạn như, ngày nay nhận dạng vân tay được sử dụng làm cơ chế xác thực cho hầu hết các thiết bị và ứng dụng.
Phân cụm cũng được ứng dụng khá nhiều trong tìm kiếm web. Ví dụ như: một từ khóa tìm kiếm có thể cho ra một số lượng rất lớn các kết quả, do số lượng trang web là vô cùng lớn. Phân cụm có thể được sử dụng đề sắp các kết quả đó vào các nhóm và trình bày các kết quả một cách ngắn gọn. Giúp người dùng có trải nghiệm tốt hơn, tìm kiếm đễ dàng và hiệu quả hơn.
Hơn nữa, các kỹ thuật phân cụm cũng đã được phát triển đề phân loại các tài liệu thành các chủ đề, kết quả của nó thường được sử dụng trong truy hồi thông tin. Trong khai phá dữ liệu, phân cụm được sử dụng như một công cụ độc lập để hiểu rõ hơn về phân phối của đữ liệu, để quan sát các đặc điểm của từng cụm và tập trung vào một nhóm cụ thê đề phân tích thêm. Ngoài ra, nó cũng đóng vai trò là bước tiền xử lý cho các thuật toán khác như phân lớp, trích chọn đặc trưng,. 4 Bởi vì mỗi cụm là một tập các đối tượng tương tự nhau và không tương tự với các đối tượng thuộc lớp khác, nên mỗi cụm có thê được hiểu là một lớp ấn.
Theo nghĩa này, phân cụm đôi khi còn được gọi là phân lớp tự động. Trong một số ứng dụng, phân cụm còn được gọi là phân đoạn dữ liệu (Data Segmentation), bởi nó phân chia dữ liệu thành các nhóm dựa trên độ tương tự của chúng. Phân cụm cũng có thể được sử dụng để phát hiện ngoại lệ (các đối tượng cách xa bất kỳ cụm nào). Ví đụ như phát hiện gian lận thẻ tín dụng, giám sát các hoạt động tội phạm trong thương mại điện tử.
Trong học máy, phân lớp được gọi là học có giám sát (Supervised Learning) vì thông tin nhãn lớp được sử dụng trong thuật toán học. Còn phân cụm được gọi là học không giám sát, do không sử dụng thông tin nhãn lớp. Vì lý do này, phân cụm là hình thức học tập dựa trên quan sát thay vì học qua các ví du [2]. Một số phương pháp phân cụm dữ liệu cơ bản Tùy theo đặc điểm về tính tương đồng của các đối tượng trong các bài toán đang xét, có nhiều cách tiếp cận cho thuật toán phân cụm.
Phương pháp phân hoạch Cho tập đữ liệu D gồm n đối tượng, phương pháp phân hoạch phân phối các đối tượng thuộc D thành k cụm, C¡, C2, ., Cx, sao cho C¡ 6 D và Œ¡ n Cj = @ voi1l<i,j <k. Mét ham mục tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng phân cụm sao cho các đối tượng trong cùng một cụm thì tương tự nhau nhưng khác so với các đối tượng ở các cụm khác. Ở đây, hàm mục tiêu sẽ nhắm đến việc làm tăng cao độ tương tự nội bộ (Intracluster Similarity) và giảm thấp độ tương tự liên kết (Intercluster Similarity). Hầu hết các phương pháp phân hoạch đều dựa trên khoảng cách (Distance-based).
Ban dau chúng khởi tạo một phân vùng. Sau đó, no lặp đi lặp lại việc di chuyền các đối tượng từ nhóm này sang nhóm khác để cố gắng cải thiện chất lượng phân vùng. Phân cụm phân hoạch thường rất khó để đạt được tối ưu toàn cục mà thường thực hiện tối ưu cục bộ bằng các cách tiếp cận tham lam như thuật toán k-Means và k-medoids. Chúng thường hoạt động tốt khi được sử dụng để tìm 5 các cụm có hình cầu (Spherical Shaped Cluster) trong cơ sở đữ liệu có kích thước từ nhỏ đến trung bình [2].
Thuật toán k-Means [2] K-Means là một thuật toán phân cụm phân hoạch dựa trên trọng tâm. Chúng sử dụng trọng tâm của một cụm để đại diện cho cụm đó. Trọng tâm có thê được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như giá trị trung bình của các đối tượng trong cụm. Giả sử ta có cụm C¡ với tâm c¡.
Gọi dist(p, c¡) là khoảng cách giữa điểm p và tâm c¡. Chất lượng của cụm C¡ có thể được đo bằng tổng bình phương khoảng cách giữa tất các các đối tượng trong cụm và tâm c¡, được định nghĩa như sau: Ee = >. dist(p,c)* pec Ec, càng nhỏ thì chất lượng của cụm càng tốt. Từ đó, chất lượng của một kết quả phân cụm hay một bộ phân hoạch có thể được tính bởi công thức sau: E= y ».
dist(p, c2 i=1 p€C; Tối ưu hóa E là một việc rất khó khăn. Trong trường hợp xấu nhất, chúng ta sẽ phải liệt kê một số lượng là ly thừa của số cụm các phân hoạch có thể có. Bài toán là NP-hard trong không gian Euclide nói chung (chưa biết số chiều), thẫm chí ngay cả khi số cụm k=2. Trong trường hợp, các đối tượng đữ liệu là các vec-tơ trong không gian Euclide 2 chiều, nhưng chưa biết số cụm k, thì việc tối ưu E cũng là NP-hard.
Đề khắc phục điều nay, k-Means su dung cach tiép cận tham lam và thực hiện tối ưu cục bộ. Thuật toán k-Means định nghĩa trọng tâm của cụm là giá trị trung bình của các điểm trong cụm. Lược đồ giải thuật của thuật toán như sau: Input: = ks6 lượng các cụm "_D: iập dữ liệu gồm n đối tượng Output: Mot tap gom k cum. Phuong thire: (1) tity chon k đối tượng trong D làm tâm khởi tạo cho k cụm (2) lặp cho tới khi không có sự thay đổi nào nữa (2.1) gán (hoặc gán lại) mỗi đối tượng vào cụm mà nó gần tâm nhất (2.2)cập nhật lại tâm các cụm, bằng cách tính giá trị trung bình của các đối tuong trong cum.
Hình bên dưới mô phỏng giải thuật phân cụm k-Means "¬ es _ sa om} es z ` r7 ®` se 7 ° e@ NY +? " Nó " , eK ° ' ’ t e , + , e e fe oe” ie ‘ite oe? 2 ee -.2- + Sin Se ` ozs " ` -=« e ¬. ‘ * eo ` — (a) Initial clustering (b) Iterate (c) Final clustering Hinh 1.1 Phan cum k-Means 1. Phương pháp phân cấp Phân cụm phân cấp còn được gọi là phân cụm cây, trong đó sắp xếp một tập dữ liệu đã cho thành một cấu trúc có dạng hình cây. Tùy theo cách xây dựng cây phân cấp, mà phân cụm phân cấp được chia thành hai phương pháp kết tụ (Agglomerative) hoặc phân tách (Divisive).
Phương pháp kết tụ, còn được gọi là phương pháp từ dưới lên (Bottom-up), bắt đầu với mỗi đối tượng tạo thành một nhóm riêng biệt. Sau đó, nó liên tiếp trộn các đối tượng hoặc các nhóm gần nhau lại, cho tới khi tất cả các nhóm được trộn thành một, hoặc đạt tới một điều kiện kết thúc nào đó [2]. Phương pháp tách còn được gọi là phương pháp từ trên xuống (Top- down), bắt đầu với tất cả các đối tượng trong cùng một cụm. Trong mỗi lần lặp liên tiếp, một cụm lại được chia thành các cụm nhỏ hơn, kết thúc khi mỗi đối tượng nằm trong một cụm hoặc đạt tới điều kiện kết thúc nào đó.
Phân cụm phân cấp có thể dựa trên khoảng cách hoặc dựa trên mật độ. Nó có mặt hạn chế bởi thực tế một khi một bước trộn (merge) hoặc tách (split) được thực hiện, nó không bao giờ có thể được hoàn tác và các bước tiếp theo của quá trình sẽ được thực hiện trên các cụm vừa mới được tạo. Do đó, nếu các quyết định trộn hoặc tách không được lựa chọn tốt sẽ dẫn đến chất lượng phân cụm không được tốt. Song sự cứng nhắc này cũng hữu ích ở chỗ nó dẫn đến chỉ phí tính toán nhỏ hơn bởi không phải lo lắng về tô hợp của các lựa chọn khác nhau.
Dù không thể sửa các quyết định sai lầm, tuy nhiên nhiều cách thức cải thiện chất lượng phân cụm phân cấp đã được đề xuất. Trong đó, một hướng đi đầy hứa hẹn là tích hợp phân cụm phân cấp với các kỹ thuật phân cụm khác, được gọi là phân cụm đa pha (Multiphase Clustering). Trong đoạn sau của tiểu mục này, chúng tôi sẽ giới thiệu một phương pháp như vậy, đó là Chameleon. Có một số cách đề phân loại các phương pháp phân cụm phân cấp.