lời mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu sơ đồ, đề án tốt nghiệp được kết cầu thành 3 chương: Chương 2: Cơ sở lý thuyết về phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB) - Chi nhánh Sở Giao Dịch. Chương 4: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB) - Chi nhánh Sở Giao Dịch. 3 2CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
Cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại 2. Khái niệm về cho vay tiêu dùng tại NHTM Cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân, hộ gia đình giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng tại NHTM − Đối tượng cho vay tiêu dùng: CVTD hướng tới đối tượng là các cá nhân, hộ gia đình, là những cá nhân đủ năng lực pháp lý thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội như cán bộ, công nhân viên chức nhà nước hoặc tư nhân, người lao động tự do,… Đối tượng có thể được phân theo mức độ tài chính của khách hàng: thu nhập thấp, thu nhập trung bình và thu nhập cao. − Quy mô: Nhu cầu về vốn không lớn nhưng số lượng các khoản vay nhiều.
Đặc điểm này xuất phát từ đối tượng của CVTD là cá nhân, hộ gia đình có mục đích vay vốn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng (như mua nhà, mua xe, mua sắm thiết bị, sửa chữa, du lịch, du học, y tế,…) khi mà nguồn tiền đang có chưa đủ để chi trả. Với các khoản chi tiêu như vậy thì quy mô của các khoản vay là rất nhỏ so với tổng tài sản của ngân hàng nhưng số lượng các khoản vay là rất lớn. − Lãi suất: Lãi suất CVTD thường cao hơn so với lãi suất các loại cho vay trong lĩnh vực khác. Đồng thời, nó cũng ít linh hoạt hơn hay gần như là cố định, đặc biệt trong cho vay tiêu dùng trả góp.
Tuy dưới sức ép cạnh tranh, các ngân hàng đã cho phép lãi suất CVTD được thả nổi nhưng vẫn ở mức cao và cứng nhắc. − Rủi ro: Đối tượng sử dụng sản phẩm cho vay tiêu dùng chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình do hoạt động cho vay phụ thuộc một phần không nhỏ vào yếu tố chủ quan là khách hàng. Do vậy, các khoản vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao. − Thu nhập từ cho vay tiêu dùng: chi phí khá lớn và mức rủi ro cao do vậy các NHTM thường kỳ vọng mức lợi nhuận lớn từ các khoản vay này.
Trên thực tế, người tiêu dùng thường kém nhạy cảm với lãi suất và nhu cầu của họ hàu như ít co giãn với lãi suất. Do lãi suất cao, số lượng khoản vay lớn nên dù quy mô từng khoản vay nhỏ thì thu nhập lãi mà CVTD đem lại thường rất lớn. Vậy nên, 4 cho vay tiêu dùng vẫn là một trong những hoạt động mà ngân hàng trong và ngoài nước hướng đến phát triển bởi khả năng sinh lời cao. Vai trò của cho vay tiêu dùng a) Đối với khách hàng Cuộc sống ngày càng được nâng cao, đời sống càng được cải thiện thì nhu cầu của con người về hàng hóa càng nhiều.
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của khách hàng. Nhờ những khoản vay tiêu dùng từ ngân hàng, họ có thể mua sắm những hàng hoá cần thiết, các hàng hóa xa xỉ, có giá trị cao, giúp thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cuộc sống ngay cả khi khả năng tài chính hiện tại của họ chưa cho phép. Ngoài ra, CVTD cũng góp phần làm giảm hiện tượng vay nặng lãi, giúp người tiêu dùng giảm bớt gánh nặng trả lãi. Vì vậy, việc ngân hàng thực hiện và phát triển hoạt động CVTD sẽ mang đến những lợi ích tốt, thiết thực cho khách hàng.
b) Đối với ngân hàng − Cho vay tiêu dùng tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, nhờ đó góp phần giúp các NHTM tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao thu nhập và phân tán được rủi ro. − Cho vay tiêu dùng cũng là công cụ marketing hiệu quả giúp các NHTM mở rộng quan hệ với khách hàng. c) Đối với nền kinh tế Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, với mức thu nhập như hiện nay, phần lớn người tiêu dùng không thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua sắm cùng lúc, đặc biệt là những vật dụng đắt tiền.
Nếu người tiêu dùng có thể vay được tiền từ ngân hàng thì họ có thể thỏa mãn được nhu cầu của họ ngay trong hiện tại. Điều đó làm tăng sự tiêu dùng hàng hóa, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các hãng, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của toàn xã hội một cách nhanh chóng. Phân loại hình thức cho vay tiêu dùng tại NHTM − Căn cứ vào mục đích vay vốn − Căn cứ theo thời hạn vay − Căn cứ vào hình thức đảm bảo tiền vay 5 2. Phát triển cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại 2.
Khái niệm về phát triển cho vay tiêu dùng tại NHTM Phát triển cho vay tiêu dùng có thể hiểu là sự gia tăng cả về quy mô và chất lượng khoản vay, tức là quy mô cho vay mở rộng, số lượng khách hàng vay vốn ngân hàng ngày càng tăng, đa dạng hóa đối tượng cho vay, tỷ lệ nợ xấu giảm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng và cuối cùng mang lại hiệu quả cho ngân hàng. Các chỉ tiêu phản ánh phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 2. Chỉ tiêu về quy mô − Đánh giá về tăng trưởng về khách hàng Tăng trưởng về khách hàng: Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng trưởng số lượng khách hàng vay tiêu dùng năm (n) so với năm (n-1). Khi chỉ tiêu này tăng lên, nó thể hiện rằng số lượng khách hàng vay tiêu dùng qua các năm của ngân hàng đã tăng lên về số tương đối, đồng thời chứng tỏ hoạt động CVTD của ngân hàng đang được mở rộng.
𝑇ố𝑐 độ 𝑡ă𝑛𝑔 𝑆𝐿𝐾𝐻 𝑛ă𝑚 𝑛 − 𝑆𝐿𝐾𝐻 𝑛ă𝑚 𝑛 − 1 = × 100 𝑘ℎá𝑐ℎ ℎà𝑛𝑔 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝐶𝑉𝑇𝐷 Cơ cấu khách hàng: Chỉ tiêu này đánh giá tỷ trọng của từng nhóm khách hàng trong hoạt động CVTD. 𝐶ơ 𝑐ấ𝑢 𝑘ℎá𝑐ℎ ℎà𝑛𝑔 𝑛ℎó𝑚 𝑆𝐿𝐾𝐻 𝑛ℎó𝑚 𝑠ả𝑛 𝑝ℎẩ𝑚 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑡ℎứ 𝑖 = × 100 𝑠ả𝑛 𝑝ℎẩ𝑚 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑡ℎứ 𝑖 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑆𝐿𝐾𝐻 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝑡𝑖ê𝑢 𝑑ù𝑛𝑔 − Đánh giá về tăng trưởng doanh số cho vay Doanh số cho vay: Chỉ tiêu này cho biết tốc dộ tăng trưởng doanh số hoạt động cho vay tiêu dùng năm (n) so với năm (n-1). Khi chỉ tiêu này tăng lên, nó thể hiện rằng doanh số hoạt động cho vay tiêu dùng qua các năm của ngân hàng đã tăng lên về số tương đối, đồng thời chứng tỏ hoạt động CVTD đang có dấu hiệu phát triển. 𝑇ố𝑐 độ 𝑡ă𝑛𝑔 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑠ố 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑛ă𝑚 𝑛 − 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑠ố 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑛ă𝑚 𝑛 − 1 = × 100 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑠ố 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑠ố 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑛ă𝑚 𝑛 − 1 Cơ cấu doanh số cho vay: Chỉ tiêu này đánh giá tỷ trọng doanh số cho vay của từng nhóm sản phẩm trong hoạt động CVTD.
𝐶ơ 𝑐ấ𝑢 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑠ố 𝑛ℎó𝑚 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑠ố 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑛ℎó𝑚 𝑠ả𝑛 𝑝ℎẩ𝑚 𝑡ℎứ 𝑖 = × 100 𝑠ả𝑛 𝑝ℎẩ𝑚 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑡ℎứ 𝑖 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑠ố 𝐶𝑉𝑇𝐷 6 − Đánh giá về tăng trưởng dư nợ cho vay Dư nợ cho vay: Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng trưởng dư nợ CVTD năm (n) so với năm (n-1). Khi chỉ tiêu này tăng lên, nó thể hiện rằng dư nợ cho vay tiêu dùng qua các năm của ngân hàng đã tăng lên về số tương đối, đồng thời hoạt động CVTD đang phát triển. 𝑇ố𝑐 độ 𝑡ă𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝐷ư 𝑛ợ 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑛ă𝑚 𝑛 − 𝐷ư 𝑛ợ 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑛ă𝑚 𝑛 − 1 = × 100 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝑡𝑖ê𝑢 𝑑ù𝑛𝑔 𝐷ư 𝑛ợ 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑛ă𝑚 𝑛 − 1 Cơ cấu dư nợ cho vay: Chỉ tiêu này đánh giá tỷ trọng dư nợ cho vay của từng nhóm sản phẩm trong hoạt động CVTD. Chỉ tiêu về chất lượng − Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay tiêu dùng 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑛ợ 𝑞𝑢á ℎạ𝑛 𝑐ủ𝑎 𝑁ợ 𝑞𝑢á ℎạ𝑛 𝑐ủ𝑎 𝐶𝑉𝑇𝐷 = × 100 ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝐶𝑉𝑇𝐷 Nợ quá hạn là khoản nợ mà người đi vay không thể trả cả gốc và lãi vào ngày đến hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Khách hàng nếu rơi vào nhóm nợ quá hạn sẽ gặp khó khăn khi vay nợ ở ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác. Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được, cụ thể là trên 100 đồng dư nợ hiện hành có bao nhiêu đồng đã quá hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp; ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao. Theo thông lệ quốc tế nếu tỷ lệ nợ quá hạn dưới 5% thì được coi là tín dụng có chất lượng tốt.
− Tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động tín dụng tiêu dùng 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑛ợ 𝑥ấ𝑢 𝑐ủ𝑎 𝑁ợ 𝑥ấ𝑢 𝑐ủ𝑎 𝐶𝑉𝑇𝐷 = × 100 ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔 𝐶𝑉𝑇𝐷 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝐶𝑉𝑇𝐷 Nợ xấu được hiểu là các khoản nợ khó đòi khi người vay không thể trả nợ khi đến hạn phải thanh toán như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Cụ thể, nếu quá thời gian quá hạn thanh toán trên 90 ngày thì bị coi là nợ xấu. Theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT – NHNN về Phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ri và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín 7 dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: “Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì nguy cơ ảnh hưởng đến dòng vốn của các ngân hàng thương mại càng to.
Đây là nguyên nhân chính kiềm chế sự lưu thông của tín dụng trong nền kinh tế. Ngoài ra, tỷ lệ nợ xấu cao là biểu hiện của chất lượng cho vay thiếu hiệu quả.