chương 1 cing giới thiệu các thành phần của hệ thống 1DS, phân leại các hệ thống IDS đã được phát triển và sở dụng hiện say. Trong chương tiếp theo tắc giả đi trình bảy nội dong liên quan đến nguẫn dỡ liệu dành cho phát hiện xâm nhập công như phân tich wo, nhược điểm của các phương pháp xây dựng hệ thống IDS. 16 CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VÀ NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN TẤN CÔNG TRONG HỆ THÓNG IDS 2. Thế nào là bất thường trong mạng Sự bất thường trong mạng thường đùng để chỉ những tỉnh huống khí hoạt động cia mạng đi chệch so với các trạng thấi được quy định là bình thường.
Bắt thường trong ‘mang có thể phát sỉnh từ nhiều nguyên nhân như các thiết bị mạng bị hồng hóc, hệ thống ‘mang qua tdi, hé thống gặp phải các cuộc tắn công từ chối địch vụ, hoặc các cuộc xâm. ship phá vỡ khả năng vận chuyển của các địch vụ mạng. Những sự kiện bất thường sẽ phá vỡ trạng thấi bình thường của một vài đỡ liệu mạng mã chúng ta có thể đo được. "Người ta sẽ dua vào trạng thải của các đỡ liệu này để xác định trang thai cba mang la tình thường hay không bình thường.
Các dỡ liệu dùng để xác định trạng thái của mạng phụ thuộc vào một vải nhân tổ đặc biệt nh khả năng hoạt động của một hệ thệ 2 dva trên đong lượng lưu thông, loại d tiêu hệ thống sẫn có, những ứng đọng đang chạy trên ệ thống, các ốitn gũi đến với những yêu cầu hệ thống thc hiện những câu lệnh nhạy "Như vậy những bất thường của hệ thống được xác định thông qua những thay đỗi “hanh liên tục trong đỡ liệu hệ thống trước hoặc trong khi một sự kiện bất thường đang xây ra. Những thay ¡nhanh dùng để diễn tả sự thay đột ngột trong đỡ liệu xây ra theo một trật tự thời gian (tần suất. Khoảng thời gian ra các thay đối đột tiễn thiên theo bản chất của sự kiện bất thường đó, "Bất thường trong mạng cổ thể được chia làm hai lớp chính: -_ Lớp bắt thường thứ nhất: ên quan đến những sự cổ và những lỗi về hiệu năng cia mang như sự cổ liên quan đến Zilz Szrrer, sự cổ phân trang bộ nhớ qua mang (paging across the network), broadcast storms, babbling node, hay tic aghén đường truyền (transient congestion) [1]. Ví dụ cho sự cổ File Server đó là sự cổ của một Ifeb Server, xây ra khi có một số lượng lớn yêu cầu tới máy chủ vượt m qua khả năng đáp ông.
Sự cổ phân trang qua mang (paging network) xay ra khỉ “một chương tr-nh ứng đụng phình to hơn đung lượng bộ nhớ giới hạn của mấy trạm làm việc và bắt đầu phân trang bộ nhớ tối một File Server, vie nay khéng ấn cá nhân người ding nhưng nỗ ảnh hướng đến những nguời ding 48 babbling node la tink "huống khí một nốt mạng gũi ra ngoài những g6i ta nhỗ trong một tông lặp vô hạn đ kiểm tra một ải thông tia như các báo cáo về trạng thất. Trong một vải trường hợp nhồng lỗi phẫn mềm cũng có thể gay ra céc bit thường trong mạng như những lỗi khi xây đợng giao thốc mạng khiển cho một mấy liên tục gửi các tối tin gây tắc nghền mạng Lop bất thường thứ 2: là nhông vẫn đề liên quan đến an nỉnh mạng [1]. Vĩ đp về những bất thường đạng này là tấn công từ chối dich vu (DoS). Tin công từ Si dich vụ là một trong những thủ đoạn nhằm ng: căn những người ding hợp pháp kha năng truy cập và sử đụng vào một địch vụ nào đó, DoS có thể lim “ngưng hoạt động của một mấy tính, một mạng nội bộ thậm chí cả một hệ thống ‘mang rit lớn.
Về bản chất thực sự của DoS, kẻ tấn công sẽ chiếm dung một lượng lớn tải nguyên mạng như băng thông, bộ nhố. và làm mmắt khả năng xử lý các yêu cầu địch vụ từ các khách bàng khác, TẤn công DoS nối chung không nguy hiểm như các kiểu tấn công khác, vỉ kế tấn công ít có khả năng thâm nhập hay chiếm được thông tin đỡ liệu của hệ g. Tuy nhiên, nếu máy chỗ tổn tại mã không thể cung cấp thông tin, địch vụ cho người sở dụng thì sự tổn tại nấy lã “khôngcó ý nghĩa, đặc biệt lã các hệ thống phục vụ các giao địch điệntử th thiệt bại là vô cũng lớn. Đối với hệ thống máy chủ được bảo mật tốt, khó thâm nhập, iệc tấn công từ chối địch tụ DoS được các hacker sử dụng như là quân cờ cuối” để triệt hạ hệ thống đó.
Các nguồn đữ liệu dùng cho phát hiện bất thường. “Thu thập các loại dữ liệu liên quan đến hiệu năng cöa mạng là công việc cơ bin cho việc phát hiện bất thuờng. Các loại bất thường có thể phát hiện được phụ thuộc vào "bản chất của dỡ liệu mạng. Trong mục này chúng ta sẽ xem xét một số nguồn có thể thụ thập dỡ liệu và phân tích sự phi hop cia chúng trong việc phát hiện chất của phương pháp phát hiện bất thường là xây dựng tập các hỗ so trang thấi bình thường céa mang dé so sảnh do đó dỡ iệu thu thập căng chính xác khả năng phất hiện cảng cao, thuật oần cảng hiệu quả.
Network Probes ‘Network Probes là các công cụ đặc biệt nh lénh ping, traceroute.duge sé dong để thu thập các thông số mạng cần thiết như thời gian tr và tứ lệ mất gối ti [5]. Các công cụ Probing cung cấp các s liệu mạng một cách tức thời. Nhưng phương thức này không yêu cầu sự phối hợp của các nhà cung cấp dịch vụ mạng. Tuy vậy, các nhà cung cấp địch vụ có thể chọn không cho phép cc công cụ này hoạt động thông qua Firewnll của họ.
ơn nữa các gối tin TP được sử đọng bỗi các công cụ này không nhất thiết phải đi theo các con đường cổ định hoặc được các thiết bị mạng xử lý giống như các gối im TP thông thường, Phương thức này cũng giả thiết tin tai một con đường đối xóng giữa "nguồn và đích đến. Trên mạng Internet, giả thiết này là không được đảm bảo. Do đồ các thông số thụ thập được từ các công cụ này có thể chỉ cho chúng ta cái hin ở mốc thô về hệ thống mạng, Vì thể dỡ liệu lấy được tờ các probing chưa đồ cho mục địch phất hiện trấtthường, cần kết hợp với loại đữ liệu khác đ kết quả chính xác hơn 2.2, Loc géi tin cho việc phân tích luồng Trong phương thức lọc gối tỉ, các oông gối in sẽ được thốngkê, lẤy mẫu bằng cách ghỉ lại các thông tin TP hesder của các gối tin ở các thời điểm khác nhau và ở các ví tí khác nhau. Các thông ti thu duge tir IP header c6 thể cung cấp chỉ tết về hoạt đồng của mạng, chúng có thể được sở đụng trong việc phát hiện các bất thường về tuỗng, “Một luỗng thông tin được xác định bởi địa chỉ nguồn, địa chỉ đích và số hiệu cổng [9] 19 ‘Tém lai phuong pháp này cho phép có được thống kê chính xác về giao địch trong mạng nhưng khó áp dung trong thục tế vì nó đồi hôi những công nghệ lấy futinh ví cũng chữ các thiết bị phân cứng đặc biệt để ÿ các thông tin từ các gối IP.
Dữ liệu từ các giao thức định tuyền “hông tin về các sự kiện mạng có thể được thu thập thông qua các giao thức định tuyển [9]. Ví dụ như sở dung giao thitc OSPF (open shortest path ñrs), nó có thể the thập tất cả thông tin cập nhật về bồng định tuyến được trao đổi bối các router. Dữ liệu thu được có thé xây dung topology (cach bổ trí phần tử của mạng cũng như cách nổi giữa chúng với nhau) của mạng và cung cấp trạng thải cập nhật của đường truyền như. về băng thông, độ trễ, mức độ tắc nghẽn mạng, 2.4, Dữ liệu từ các giao thức quẫn trị mạng Các giao thức quản trị mạng cũng cấp Ýt cả thông tin thống kê về giao thông tiên ‘mang.
Nhiing giao thúc này hỗ trợ rất nhiều thông số có thể giám sát chính xác hoạt động, thiết bị mạng. Những thông tin thu thập được có thể không cung cấp trục tiếp các thôi số đo lường về giao thông mạng nhưng có thể đồng đỀ nhận dạng các hành vỉ trên mạng do đó có thể được sử dụng trong phát hiện bắt thường mạng. Sử dụng loại thông tin này đồi hỏi sự kết hợp với phẫn mềm quân tr mạng của nhà cong cấp địch vụ. Tuy nhiền những giao thúc này cung cấp một lượng thông tin phong phổ và chất lượng Tiếp theo chúng ta xem xết chỉ tết mét giao thie 1a SNMP (Simple Network Management Protocol) [1 SNMP hoạt động đợa trên mô hình clien-server Giao thức này cung cấp một cơ chế giúp cắc manager giao tiếp với geat.
Một SNMP mmanagr có hễ im sất hing tim SNMP agent khác nằm trên các thiết bi mang. SNMP được cải dit é ting ing dung va chạy tiên giao thức UDP. SNMP manager c6 kha ning tho thập các dỡ tiêu quản lý được cong cắp bởi SNMP agent nhưng lạ không có khả năng xổ lý những đỡ liệu này. SNMP server sẽ lưu gif 1 cơ sở đỡ liệu bao gŠm những thông số quản lý được gọi là những thông số thông tin quản lý cơ bản MIB (management information base).
Các thông số 2» iy chứa các thông ti liên quan đẫn hoạt động của các chức năng khác nhau trên những thiết bị mạng [1] "Bất kỹ thiết bị mạng nào công có một tập các thông số MIB đặc trưng cho các chức năng của nó. Các thông số MIB được định nghĩa đụa trên loại thiết bị cũng như tổng giao thúc mà nố hoạt động. Vĩ đụ như bridges (cần) hoạt động ở ng tên kết đỡ liệu chứa các hông số cũng cấp thông tin về trao đổi thô ig tin & mute liên kết đữ liệu Routers la thit bi 6 ting mang chia ede thing sé cang cép thong tn vé ting mạng Lợi Ísh của vige st dong giao thire SNMP vi nd la mét gio thức được phát tiễn rông ri và “mang tính chuẫn hỏa trên tất cả các thiết bị mạng. Nhờ đó các thông tin lấy được từ giao thức SNMP là các đỡ liệu lý trởng sở đụng cho iệc phát hiệ bắt thường Các thông số MIB được chỉa thành các nhóm: hệ thống, giao dién (i, dich dia chi (address translation af, giao thức ntemst p),giao thức điều khiễn tin nhẫn internet (áemg), giao thúc điều khiển giao vận (ep), giao thúc udp (udp), gio thie céng ngodi €ep).