Chương 1: Một số van dé lý luận pháp luật về dau thầu mua sắm áp dụng cho các Dự án ODA Chương 2: Thực trạng pháp luật về dau thầu mua sắm ở Việt Nam và việc thực hiện đối với các Dự án ODA do Ngân hàng Thế giới tài trợ Chương 3: Một sé khuyén nghị cho việc hoàn thiện các qui định dau thầu của Việt Nam trong việc thực hiện các Dự án ODA do Ngân hàng Thế giới tài trợ. CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN PHÁP LUAT VE ĐẦU THAU MUA SAM ÁP DUNG CHO CÁC DỰ ÁN ODA. KHÁI NIEM VA QUA TRINH HÌNH THÀNH HE THONG PHAP LUAT VE DAU THAU MUA SAM 1.1 Khái niệm về dau thâu mua sam Thuật ngữ "đầu thầu' đã xuất hiện trong thực tế xã hội từ lâu. Theo Từ điển tiếng Việt (do Viện ngôn ngữ học biên soạn, xuất bản năm 1998) thi dau thầu được giải thích là việc "đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)”.
Như vậy bản chất của việc đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như là một sự ganh đua (cạnh tranh) dé duoc thuc hién một việc nao đó, một yêu cau nào đó. Trên thực tế có một số định nghĩa về thuật ngữ Đấu thầu. Tuy nhiên, quy định về đấu thầu dù dưới bất kỳ dạng nào đều sử dụng một thuật ngữ có xuât xứ tiêng Anh là “procurement” (nghĩa là mua sam). Với sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh chuyền đôi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề đấu thầu chăng những được Nhà nước, các nhà thầu mà ngay cả người dân cũng hết sức quan tâm và đấu thầu trở thành một công cụ trong quản lý chi tiêu các nguồn tiền của Nhà nước, va nó cũng là một sân chơi cho những ai muốn tham gia đáp ứng các nhu cầu mua sắm.
Thực tế đó đòi hỏi phải hình thành các quy định, hình thành một hệ thống pháp lý cho một công việc mới mẻ nhưng hết sức cần thiết đối với các hoạt động kinh tế hiện nay - đó là các hoạt động đấu thầu. Có thé thay rang dau thau trong xã hội hiện nay bao quát nhiều nội dung hơn, nó không đơn thuần chỉ là một quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng việc cung cấp hàng hoá, xây dựng các công trình mà bao gồm cả các dịch vụ tư vấn. Xét về mặt kinh tế có thé coi đấu thầu là một mối quan hệ giữa một bên có tiền dành cho một kế hoạch, một nhu cầu nảo đó và một bên muốn giành được quyền đáp ứng yêu cầu để có được hợp đồng gắn với lợi nhuận. Một hình thức mang tính dau thầu giản đơn thường xảy ra trong cuộc sống hàng ngày đó là việc mua sắm cho các nhu cầu trong gia đình và thậm chí có thể coi việc “đi chợ” hàng ngày cũng thuộc phạm trù đấu thầu.
Theo định nghĩa về thuật ngữ “đấu thầu” trong Quy chế đấu thầu của Việt Nam thì đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu. Kết quả của sự lựa chọn đó là có một hợp đồng được ký với các điều khoản quy định chi tiết trách nhiệm của hai bên. Một bên là nhà thầu phải thực hiện các nhiệm vụ như nêu trong chào hàng (có thể là một dịch vụ tư vấn, cung cấp một loại hàng hoá hoặc chịu trách nhiệm xây dựng một công trình.), còn Bên mời thầu (là chủ đầu tư hoặc Ban quản lý dự án thay mặt chủ đầu tư) sẽ có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu và thanh toán. Như vậy thực chất của quá trình đấu thầu ở Việt Nam là một quá trình mua sắm, mà cốt lõi là chọn lựa được nhà cung cấp hàng hoá dịch vụ có đủ năng lực và kinh nghiệm dé thực hiện dự án với chi phí thấp nhất.
Theo đó, đấu thầu được hiểu là quá trình lựa chọn nhà thầu để thực hiện các phần việc của dự án gọi là các gói thầu, bao gồm: gói thầu tư vấn, gói thầu cung cấp hàng hoá, gói thầu xây lắp công trình. Tuy nhiên, dé dé dang so sánh với các quy định của Ngân hàng thé giới về dau thầu mua sắm trong các dự án ODA do WB tài trợ, trong phạm vi bản luận văn nay chỉ xem xét các quy định đấu thầu về mua sắm hàng hoá và xây lắp công trình. Chiếm một vị trí quan trọng trong nguồn vốn của Nhà nước ở Việt Nam đó là các nguồn hỗ trợ chính thức (ODA) từ bên ngoài. Trong gần một thập kỷ qua, việc thu hút và sử dụng ODA phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tê xã hội ở Việt Nam đã diễn ra trong bôi cảnh trong nước và quôc tê có những điều kiện thuận lợi cơ bản.
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam bắt dau từ những năm 1986 được thực hiện một cách nhất quán mang lại những thành tựu mang tính thuyết phục: chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt. Chiến lược phát triển của đất nước đã đặt trọng tâm vào con người, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình phát triển đã tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của cộng đồng tài trợ quôc tê. Tuy thời gian và kinh nghiệm về đấu thầu còn hạn chế, Việt Nam đã có được những kinh nghiệm thực tế đáng ké với những thủ tục và phương pháp đấu thầu hiện đại được áp dụng rộng rãi trong các dự án ODA. Mức giải ngân ODA tăng từ khoảng 40 triệu USD năm 1993 lên 1,6 tỷ USD năm 2000.
Các Ban quản lý dự án lớn đã quen với các thủ tục và tiêu chuẩn quốc tế như dau thầu cạnh tranh quốc tế, đấu thầu cạnh tranh trong nước,. qua các công việc trong các dự án. Cho đến nay, dau thau nguồn von ODA ở Việt Nam vẫn chịu sự chi phối của các Nghị định do Chính phủ ban hành (Nghị định 88/1999/NĐ-CP; Nghị định 14/2000/NĐ-CP, Nghị định 66/2003/NĐ-CP) và một sỐ thông tư, quyết định của các Bộ (Thông tư 04/2000/TT-BKH về hướng dẫn thực hiện Quy chế đấu thầu, Quyết định 1037/2000/QD-BLDTBXH về quy định lương chuyên gia và công nhân Việt Nam làm việc theo hợp đồng với những nhà thầu nước ngoài thắng thầu tại Việt Nam. Ngoài ra, còn có các văn bản pháp luật khác liên quan đến việc đấu thầu và sử dụng nguồn vốn ODA như Nghị định 52/1999/NĐ-CP về Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng; Nghị định 17/2002/NĐ-CP về Quy chế quản lý và sử dụng hỗ trợ phát triển chính thức.
Mặc dù có những tiễn bộ như vậy, các thủ tục đấu thầu trong nước vẫn chưa đạt được các mức thông lệ quốc tế. Trước mắt, một thực tế cần phải chấp nhận là các văn bản pháp quy hiện nay của Việt Nam về đấu thầu chỉ mới chi phôi chủ yêu các nhà thâu và các nhà tư vân trong nước. Còn một khối lượng lớn các dự án thực hiện theo vốn vay của các nhà tài trợ quốc tế vẫn phải tuân thủ cả những điều khoản của công ước quốc tế hoặc quy định của các tổ chức tài trợ quốc tế. Đây là một đặc điểm quan trọng nhất trong quá trình đấu thầu các dự án sử dụng nguồn vốn ODA.
Vì vậy, tuy Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt dep trong việc tiễn tới một hệ thống phù hợp và có hiệu quả, hoạt động đâu thâu vẫn còn rât nhiêu khó khăn. Đối với Ngân hàng thế giới, để quản lý các khoản cho vay, Ngân hàng thế giới đã ban hành hai quy định về đấu thầu đối với các dự án đầu tư do Ngân hàng thế giới tài trợ là Hướng dẫn quy định về tuyển chọn tư vấn và Hướng dẫn quy định về mua sắm. Hướng dẫn quy định về mua sắm cho biết về các thủ tục mua sắm hàng hoá và công trình cho dự án theo Hiệp định vay vốn được ký kết giữa Ngân hàng thế giới và Chính phủ nước nhận tài trợ (Bên vay). Hiệp định vay quy định mối quan hệ giữa Bên vay và WB còn Hướng dẫn này áp dụng cho việc mua sắm hàng hoá và công trình cho dự án theo quy định trong Hiệp định vay.
Tuy nhiên, các quyền hạn và nghĩa vụ của Bên vay và Bên cung ứng hàng hoá và công trình cho dự án được quy định bởi hồ sơ mời thầu và các hợp đồng được ký giữa Bên vay và Bên cung ứng chứ không phải bởi Hướng dẫn của Ngân hàng thế giới hay bởi Hiệp định vay. Chính sách của Ngân hàng thế giới yêu cầu Bên vay (bao gồm cả những người thụ hưởng vốn vay), cũng như những người tham gia đấu thầu, người cung ứng hàng hoá và công trình trong khuôn khổ các hợp đồng do Ngân hàng thế giới tài trợ phải tôn trọng những tiêu chuân đạo đức cao nhât trong quá trình mua săm. Điều kiện dé tham gia đấu thầu các dự án sử dụng vốn do Ngân hàng thé giới tài trợ là các tô chức hoặc cá nhân phải là công dân của các quốc gia thành viên của Ngân hàng thế giới (hiện tại có 185 nước là thành viên của Ngân hàng thế giới). Ngân hàng thế giới duy trì một danh mục các nước mà các nhà thầu từ các quốc gia đó không đủ tư cách hợp lệ dé tham gia đấu thầu các dự án do Ngân hàng thế giới tài trợ, danh mục này được cập nhật thường xuyên và có thé lay từ Trung tâm thông tin của Ngân hàng thé giới.
Đối với Ngân hàng phát triển châu á (ADB) hay Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) thì các quy định về trình tự thủ tục đấu thầu mua sắm cũng tương tự như Ngân hàng thế giới ngoại trừ một số quy định về điều kiện tham gia dự thầu, ưu tiên nhà thầu trong nước. Nhìn chung, các nhà tài trợ không tham gia trực tiếp vào quá trình đấu thầu mà chỉ theo dõi, kiểm tra xem việc thực hiện đấu thầu của Bên vay có đúng trình tự thủ tục do nhà tải trợ quy định hay không. Trong trường hợp nhà tai trợ phát hiện Bên vay thực hiện đấu thầu không đúng quy định, có hành vi gian lận, tiêu cực thì nhà tài trợ tuyên bố huỷ khoản vay. Đối với một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Ban Lan, Cộng hoàn Liên bang Nga.
cũng có những quy định cụ thể về đấu thầu mua sắm nhằm quản lý một cách có hiệu quả nguồn vốn cuả Nhà nước.